Thực trạng tội phạm cướp tài sản trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 01/04/2025 15:37
Quá trình xây dựng và phát triển đường chiến lược Trường Sơn trải qua nhiều giai đoạn, gắn liền với các thời kì phát triển của Cách mạng miền Nam. Điều đáng nói là, ở Trường Sơn bình quân cứ 200m có một dốc cao, cứ 15m có một đèo cao, 200m có một dòng suối nhỏ, 2km có một con suối lớn và cứ 20km có một dòng sông nhỏ chảy xiết… Trước những ác liệt về bom đạn của địch và thiên nhiên hiểm trở, các chiến sĩ của ta đã tạo nên hàng chục ngàn cây số đường rừng và hệ thống trạm giao liên dày đặc cho đại quân của ta tiến vào chiến trường miền Nam.
Lúc đầu, đường Trường Sơn mới chỉ là con đường mòn đi dọc phía Đông dãy Trường Sơn, luồn lách qua nhiều đồn bốt của địch. Với phương châm “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Từ tháng 8/1959, những đoàn cán bộ và những chuyến hàng đầu tiên từ hậu phương miền Bắc qua đôi vai các chiến sĩ đã vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam.
Tính đến cuối năm 1964, đã có khoảng 3.000 tấn vũ khí, hơn 40.000 cán bộ, chiến sĩ được đưa vào tăng cường cho cách mạng miền Nam. Về phương thức, vẫn lấy vận tải thô sơ, gùi thồ là chính, kết hợp vận tải cơ giới ở từng khu vực, tận dụng từng đoạn đường sông thuận lợi để vận tài đường thủy.
![]() |
Ảnh tư liệu |
Từ năm 1965 đến 1972, đường Trường Sơn phát triển mạnh mẽ, tiến lên cơ giới hóa toàn tuyến nhằm vận tải quân sự. Từ năm 1965 đến 1968, 30 vạn cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc theo tuyến đường Trường Sơn vào các chiến trường miền Nam, góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ.
Năm 1969, Mỹ tăng cường đánh phá đường Trường Sơn bằng không quân gấp đôi so với năm 1968. Ta chủ trương giữ các đường 12, 20, 16, 18 và mở thêm các đường vòng tránh. Đến mùa khô năm 1970, tuyến đường ống xăng dầu tử miền Bắc vào tận chiến trường miền Nam bắt đầu hoạt động. Năm 1969, hai vạn tấn hàng các loại đã được chuyển vào miền Nam; năm 1970, khối lượng vận tải tăng lên bốn vạn tấn; năm 1971, tăng lên 6 vạn tấn.
Đầu tháng 2/1971, toàn bộ lực lượng chiến đấu trên mặt trận Đường 9 (Quảng Trị - Nam Lào đã lên đến 6 vạn người theo đường Trường Sơn vào đến mặt trận miền Nam Việt Nam. Từ khi mở đầu cho đến khi kết thúc chiến dịch, 8.000 tấn vật chất, trong đó có một nửa là vũ khí, đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam qua đường Trường Sơn.
Từ năm 1973-1975, sau chiến trường Đường 9 - Nam Lào, tuyến đường Trường Sơn hoàn toàn thông suốt, tiếp tục vận chuyển nguồn chi viện to lớn từ miền Bắc vào miền Nam, phục vụ kịp thời, có hiệu quả cho chiến dịch tiến công năm 1972 trên toàn miền Nam.
Đến cuối năm 1974, ta đã tập trung đầu tư lớn vào việc nâng cao chất lượng hệ thống đường Trường Sơn; xây dựng thêm 1.050km đường mới để xe ô tô có thể vận chuyển quân cho các chiến trường miền Nam. Các tuyến vận tải chiến lược đều được cải tạo, nâng cấp, có thể hoạt động bình thường.
Cả mùa khô và mùa mưa, đường Trường Sơn Đông đã nối liền với tỉnh Lộc Ninh (miền Nam). Đường Trường Sơn Tây được nắn thẳng tuyến dẫn qua các kênh rạch vùng Đồng Tháp Mười, qua tuyến đường 1C đến Hòn Đất (Kiên Giang) nối liền với tuyến vận tải đường biển của Đoàn 759.
Đến đầu năm 1975, đường Trường Sơn có tổng chiều dài gần 20.000km, bao gồm 5 hệ trục dọc dài 6.810km, 21 hệ trục ngang dài 5.000km, 5 hệ thống đường vượt khẩu dài 700km, một hệ thống đường tránh dài 4.700km. Dọc theo đường Trường Sơn có hệ thống đường ống xăng dầu với tổng chiều dài 1.399km, 101 trạm bơm bảo đảm dự trữ và cấp phát xăng dầu cho các binh chủng kĩ thuật hành quân vào các mặt trận. Ngoài ra còn có 10.000km đường dây thông tin…
Điều đáng nói là trên tuyến đường Trường Sơn đã có 3.140km đường an toàn cho xe ô tô hoạt động ban ngày trong điều kiện đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ. Hơn 2 triệu lượt bộ đội, cán bộ vào ra chiến trường, hàng triệu tấn vũ khí, đạn dược, hàng hóa quân nhu… được vận chuyển phục vụ các chiến trường. Quân ta càng đánh càng thắng và kết thúc bằng cuộc tổng tấn công thắng lợi mùa Xuân năm 1975.
Trong suốt 16 năm (1959-1975), các chiến sĩ đường Trường Sơn đã trực tiếp chiến đấu khoảng 100 ngàn trận, tiêu diệt 16 ngàn quân địch, bắn rơi 2.455 máy bay các loại của Mỹ (trong đó có cả pháo đài bay B 52, máy bay C130.
Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với quân thù, bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến trên đường Trường Sơn cũng đã chịu nhiều tổn thất về người và phương tiện vật chất. Ai đã có mặt một lần ở đường Trường Sơn hẳn sẽ hiểu rõ sự hi sinh, mất mát và sức chịu đựng vô bờ của một dân tộc ra trận đã trả giá như thế nào cho ngày chiến thắng.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trận đánh cuối cùng vào sào huyệt của chính quyền Sài Gòn, ta ở thế áp đảo về binh lực, hỏa lực và sự bất ngờ, khiến địch không kịp trở tay. Thành phố Sài Gòn được giải phóng hầu như nguyên vẹn. Đường Trường Sơn đã đóng vai trò cực kì quan trọng, đặc biệt ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Có thể khẳng định, không có đường Trường Sơn sẽ không có đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Nếu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là một thiên huyền thoại, thì đường Trường Sơn là biểu hiện sinh động nhất của huyền thoại ấy. Những kì tích mà cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến trên đường Trường Sơn đã lập nên, vĩnh viễn đi vào lịch sử như một thiên anh hùng ca. Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà sử học trong và ngoài nước đã tốn không ít giấy mực để viết về con đường này. Nhưng không giấy mực nào có thể ghi lại đầy đủ lòng dũng cảm vô song, sự hi sinh cao cả, trí thông minh tuyệt vời của những người đã từng sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn lịch sử năm xưa.