Người nhiệt huyết với công tác từ thiện
Tuổi cao gương sáng 20/03/2026 13:00
Ông sinh ra trên mảnh đất chiêm trũng Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tuổi thơ ông chứng kiến cảnh cha mẹ, ngoài giờ lên lớp còn phải thức khuya dậy sớm cải tạo đất hoang, trồng rau muống, trồng su hào, bắp cải đắp đổi qua ngày. Chính trong gian khó, những bài học đầu tiên về lòng kiên trì, khát vọng vươn lên đã ngấm sâu vào tâm hồn cậu bé Phúc.
Chiều chiều, khi những đoàn quân hành quân qua làng, cậu lại theo cha mẹ mang nước chè xanh, khoai lang ra tặng bộ đội. Những đoàn xe, đoàn pháo nối đuôi nhau vào chiến trường đã thắp lên trong ông ước mơ được khoác áo lính, bảo vệ Tổ quốc.
Và cậu học trò nghèo ấy đã học với tất cả khát khao. Bảy năm liền là học sinh giỏi, thi đỗ trường chuyên tỉnh Ninh Bình. Mỗi tuần, ông cuốc bộ hơn 40 cây số từ nhà đến trường và trở về. Những bước chân mòn mỏi trên con đường dài ấy đã hun đúc ý chí, nghị lực của một con người không bao giờ khuất phục trước khó khăn.
![]() |
| Trung tướng, GS, TS Trần Hữu Phúc - Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành KHQS8. |
Năm 1978, ông thi vào Đại học Công an Nhân dân Vũ trang (nay là Học viện Biên phòng). 5 năm dưới mái trường quân đội, ông luôn là học viên giỏi. Cơ hội đến khi ông được chọn đi thực tế viết luận văn tốt nghiệp tại Cao Bằng vẫn còn căng thẳng sau cuộc chiến năm 1979.
Những ngày tháng ấy, ông công tác tại Đồn Biên phòng Ngọc Khê, chứng kiến những trận pháo kích, những cuộc tuần tra đối mặt với biệt kích, thám báo. “Ở nhà trường, khi học về binh khí, mọi tiếng nổ đều nằm trong khái niệm huấn luyện, còn ở đây, tiếng nổ là sự báo hiệu của những mất mát, hi sinh”, ông tâm sự.
Chính trong môi trường khốc liệt ấy, ông hiểu thế nào là sự sống và cái chết, thế nào là tình đồng đội. Buổi chiều còn ngồi ăn cơm cùng nhau, tối đi tuần tra, rồi sau đấy, có người đã vĩnh viễn nằm lại biên cương. Luận văn tốt nghiệp của ông về “Biên phòng toàn dân” được đánh giá xuất sắc, bởi nó được viết không chỉ bằng trí tuệ mà còn bằng cả trái tim và xương máu.
Từ Cao Bằng, ông trở về giảng dạy, nhưng rồi lại tiếp tục lên đường. Tháng 10/1997, ông được điều động về làm Phó Tham mưu trưởng, rồi Phó Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Long An.
Ở miền Tây Nam Bộ, ông đối mặt với nạn cướp có vũ trang hoành hành. Không chỉ dùng biện pháp vũ trang, ông trăn trở tìm căn nguyên sâu xa. “Đói nghèo cũng là nguyên nhân gây nên trộm cướp”, ông nghĩ và đề xuất giúp chính quyền Campuchia xóa đói giảm nghèo cho Nhân dân bên kia biên giới. Những con kênh được đào, những chuyến hàng sang bán, những “thuyền văn hóa” lưu động tuyên truyền pháp luật - đó là những giải pháp mang tầm nhìn xa.
Kỉ niệm không quên: Trong buổi kiểm tra ném lựu đạn, một quả “ném đi chưa nổ”. Người cán bộ định chạy lên nhặt. Ông xét đoán, có thể do thời tiết ẩm làm chậm nổ, liền ra lệnh ném tiếp quả thứ hai. Quả thứ hai nổ, quả thứ nhất cũng nổ theo. Cán bộ, chiến sĩ “hú vía”, nhìn ông với ánh mắt khâm phục. Đó là bản lĩnh người chỉ huy: Thận trọng, quyết đoán và dám chịu trách nhiệm.
Năm 2008, ông nhận nhiệm vụ Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh Lai Châu. Đơn vị còn nhiều hạn chế, ông bắt đầu bằng “châm ngôn 5 không” (Không để mất cảnh giác, không để mất chủ quyền, không để mất dân, không để mất đồng đội và không để mất vũ khí). Việc đầu tiên, ông xóa bỏ 40 bếp ăn riêng lẻ trong cơ quan, tổ chức bếp ăn tập thể. Theo ông, bữa ăn riêng lẻ thì nội bộ làm sao đoàn kết. Chỉ một tháng sau, cơ quan thay đổi hẳn.
Ông chỉ đạo quyết liệt cuộc chiến với ma túy, tổ chức cai nghiện tại các đồn Biên phòng. Nhưng những việc làm để lại dấu ấn sâu đậm nhất là các mô hình kinh tế giúp dân thoát nghèo: Trại cá hồi, cá tầm đầu tiên ở suối Pa Vây Sử, Hợp tác xã Đại đoàn kết ở bản Hùng Pèng, “Ngân hàng bò” giúp đồng bào La Hủ ở Mường Tè có vốn làm ăn.
Có hai câu chuyện khiến ông không thể quên. Một lần, khi tổ nuôi quân nấu cơm xong đang chia cho anh em, trẻ con trong bản kéo đến rất đông đứng nhìn. Ông cho dừng bữa ăn, mang cơm chia cho các cháu. Nhìn các cháu hăm hở nhận cơm, ông cay xè sống mũi: “Đồng bào đang đói khổ thì cán bộ, chiến sĩ Biên phòng no làm sao được!”.
Lần khác, vào công tác ở xã Nậm Ban, huyện Sìn Hồ (cũ), thấy cảnh trường lớp thiếu thốn, thầy trò gian nan bám trụ với con chữ, ông cho vận chuyển lên trường 100 bộ bát đĩa, máy phát điện nhỏ và một chiếc ti vi. “Ánh sáng văn hóa” lên với Nậm Ban. Nghe tin có vô tuyến, từ người già đến trẻ em đều nô nức kéo đến xem.
Tháng 7/2010, ông trở lại Học viện Biên phòng với cương vị Giám đốc. Trăn trở lớn nhất là làm thế nào đào tạo cán bộ vừa giỏi lí thuyết, vừa giàu thực tiễn. Ông đưa ra triết lí: “Người thầy phải có kiến thức thực tiễn”, đề xuất luân chuyển lãnh đạo các khoa đi làm chỉ huy BĐBP cấp tỉnh, giáo viên đi làm chỉ huy cấp đồn. “Thực tiễn luôn là cây đời mãi mãi xanh tươi”, ông nói.
Ông tổ chức kết nghĩa với BĐBP 10 tỉnh, thành phố, tham mưu cho phép Học viện đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ Biên phòng. Tháng 2/2015, ông vinh dự trở thành Giáo sư đầu tiên của lực lượng Bộ đội Biên phòng.
Tháng 3/2016, ông được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Nhà trường, Bộ Tổng Tham mưu, được thăng quân hàm Trung tướng. Tháng 12/2017, ông được Thủ tướng bổ sung vào Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực nhiệm kì 2016-2021.
Khi được hỏi về đạo làm tướng, ông trầm ngâm: “Trở thành vị tướng của quân đội, điều đầu tiên phải nghĩ mình là người của Nhân dân, nghĩ đến những người thầy đã dạy dỗ mình, nghĩ đến đồng đội đã hy sinh, là thương, bệnh binh đã cống hiến một phần máu thịt cho đất nước”.
Ông tâm niệm, muốn bảo vệ biên giới bền vững thì phải dựa vào dân. Nhưng để dựa vào dân, trước hết người lãnh đạo phải biết lo cho dân. Với ông, thế trận lòng dân vững chắc chính là chiến lũy kiên cố nhất bảo vệ biên cương.
Bạn học khóa II, Học viện Biên phòng nhớ về ông với ấn tượng sâu đậm: “Ông có bước đi thoăn thoắt, đôi lông mày rậm với ánh nhìn và giọng nói sắc sảo. Mỗi lần gặp ông, tôi rất thích được đắm mình trong đôi mắt ấy và nghe giọng nói khúc triết, mạch lạc của ông”.
Đồng đội cũ ở Đồn Biên phòng Ngọc Khê vẫn nhắc đến “Thầy giáo Phúc” đã gắn bó với anh em trong những ngày gian khổ. Nhân dân các dân tộc Lai Châu vẫn kể cho con cháu nghe về vị chỉ huy đã mang “ánh sáng văn hóa” lên bản, mang cơm cho trẻ nhỏ, mang bò giống giúp bà con thoát nghèo.
Từ cậu bé vùng chiêm trũng Nho Quan với những bước chân cuốc bộ hơn 40 cây số mỗi tuần đến trường, từ người lính trẻ đối mặt với bom đạn ở Cao Bằng, từ người chỉ huy dũng cảm trên biên giới Tây Nam và Tây Bắc, đến vị Giáo sư của lực lượng Biên phòng, Trung tướng, GS, TS Trần Hữu Phúc là hiện thân của một trí thức dấn thân, không ngừng học hỏi và cống hiến.
Hành trình cuộc đời ông là hành trình của khát vọng vượt lên hoàn cảnh, của bản lĩnh kiên cường và trái tim nhân hậu. Từ chiến lũy biên cương đến bục giảng nhà trường, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng đồng đội, đồng bào và bao thế hệ học trò.