Bối cảnh đó đòi hỏi công tác người cao tuổi phải đổi mới theo hướng vừa bảo vệ, chăm sóc, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, vừa tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục tham gia, cống hiến và thụ hưởng thành quả phát triển. Đối với Hội Người cao tuổi Việt Nam, xây dựng Hội vững mạnh vì thế không chỉ là củng cố tổ chức, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực tập hợp, chăm lo và phát huy hiệu quả nguồn lực người cao tuổi.
1. Quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò và sức mạnh của người cao tuổi
Người cao tuổi - vốn quý và lực lượng quan trọng của cách mạng
Quan điểm Hồ Chí Minh về người cao tuổi kế thừa truyền thống “kính lão trọng thọ” nhưng được nâng lên thành quan điểm chính trị - xã hội về con người và lực lượng cách mạng. Người viết: “Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão có trọng trách là bậc tôn trưởng. Đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao” (1). Như vậy, vị trí của người cao tuổi được xác định trong nhiều quan hệ: là chỗ dựa của gia đình, người có uy tín trong cộng đồng và một bộ phận có trách nhiệm đối với Tổ quốc.
Điểm phát triển quan trọng trong quan điểm Hồ Chí Minh là từ kính trọng người già đi tới tin tưởng, tập hợp và phát huy họ như một lực lượng cách mạng. Người căn dặn cán bộ: “Muốn làm cách mạng thành công phải có lực lượng lớn mạnh. Muốn có lực lượng lớn mạnh phải có đoàn kết. Để đoàn kết rộng rãi, các chú đến đâu cũng phải kính già, yêu trẻ” (2). Vì vậy, Người không coi người cao tuổi là lực lượng đã hoàn thành vai trò lịch sử hay chỉ là đối tượng cần trợ giúp, mà khẳng định: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không” (3); đồng thời bác bỏ quan niệm “Lão lai tài tận”. Tuổi tác có thể làm thay đổi khả năng lao động nhưng không làm mất đi lòng yêu nước, trí tuệ, kinh nghiệm và ý chí cống hiến.
Niềm tin ấy còn được thể hiện cô đọng qua những khẳng định: “Tuổi tác càng cao, lòng yêu nước càng lớn” (4), “Tuổi cao chí càng cao” và “Nước nhà hưng, suy, tồn, vong; phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề” (5)… Theo Hồ Chí Minh, người cao tuổi không đứng ngoài vận mệnh dân tộc mà là chủ thể cùng gánh vác trách nhiệm đối với đất nước.
![]() |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm hỏi người cao tuổi ở Pác Bó, Cao Bằng, tháng 2/1961. Ảnh tư liệu |
Đặc biệt, Người coi trọng uy tín và sức quy tụ của người cao tuổi: “Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng. Phụ lão làm, nhân dân làm theo” (6). Quan điểm đó không dừng ở lời hiệu triệu mà được Hồ Chí Minh chuyển hóa thành tổ chức và hành động thông qua Phụ lão cứu quốc Hội, các “đội du kích bạch đầu quân”, cũng như việc phụ lão tham gia sản xuất, xóa nạn mù chữ, xây dựng đời sống mới. Điều đó thể hiện một nguyên tắc quan trọng trong phương pháp Hồ Chí Minh: muốn phát huy một lực lượng phải đánh giá đúng thế mạnh, có hình thức tập hợp phù hợp và hướng sức mạnh ấy vào nhiệm vụ cụ thể của đất nước.
Phát huy vai trò người cao tuổi phải đúng thế mạnh, gắn với nêu gương, đoàn kết các thế hệ và học tập suốt đời
Hồ Chí Minh đề cao vai trò người cao tuổi nhưng không tuyệt đối hóa khả năng của họ. Người thừa nhận sự khác biệt về sức khỏe giữa các thế hệ và từ đó xác định cách cống hiến phù hợp: “Con cháu ta, thanh niên sức khoẻ thì gánh việc nặng, chúng ta già cả, không làm được công việc nặng nề, thì khua gậy đi trước, để khuyến khích bọn thanh niên và san sẻ những kinh nghiệm của chúng ta cho họ” (7). “Khua gậy đi trước” thể hiện phương pháp phát huy đúng thế mạnh: người cao tuổi đóng góp bằng bản lĩnh, uy tín, kinh nghiệm; các thế hệ bổ sung, hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ chung.
Nêu gương là một phương thức cống hiến đặc biệt của người cao tuổi. Hồ Chí Minh từng viết: “Càng già, càng dẻo lại càng dai/ Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai/ Đôn đốc con em làm nhiệm vụ/ Vuốt râu mừng xã hội tương lai”(8). Sự nêu gương thể hiện từ giữ gìn gia phong, giáo dục con cháu đến hòa giải, củng cố đoàn kết và tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Sức thuyết phục của người cao tuổi trước hết bắt nguồn từ sự thống nhất giữa lời nói, nhân cách và hành động.
Một nội dung có ý nghĩa vượt trước thời đại trong quan điểm Hồ Chí Minh là yêu cầu người cao tuổi tiếp tục học tập, thích nghi và tiến bộ. Người nhắc nhở: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ được là thoái bộ”; đồng thời tự nêu gương: “Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời” (9). Như vậy, phát huy vai trò không chỉ là sử dụng vốn kinh nghiệm đã có, mà còn phải giúp người cao tuổi cập nhật tri thức mới, thích ứng với sự biến đổi của xã hội và tiếp tục hoàn thiện bản thân.
Chăm sóc và phát huy - hai mặt thống nhất của công tác người cao tuổi
Trong quan điểm Hồ Chí Minh, chăm lo người cao tuổi vừa thể hiện đạo lý của dân tộc, vừa là trách nhiệm chính trị - xã hội. Người yêu cầu phải làm sao để “ai cũng được làm việc, được ăn no mặc ấm, được học hành, người già yếu thì được giúp đỡ” (10). Đồng thời, Người khẳng định: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ” (11). Chăm sóc sức khỏe và bảo đảm đời sống người cao tuổi vì thế vừa mang ý nghĩa nhân văn, vừa là việc bồi đắp sức mạnh của quốc gia.
Chăm sóc tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục cống hiến; phát huy vai trò giúp họ duy trì sự kết nối, khẳng định giá trị bản thân và sống vui, sống khỏe, sống có ích. Nếu chỉ coi người cao tuổi là đối tượng thụ hưởng, xã hội sẽ bỏ phí trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín của một lực lượng lớn. Ngược lại, nếu chỉ kêu gọi cống hiến mà không quan tâm sức khỏe, đời sống, quyền lợi và sự khác biệt về khả năng thì việc phát huy sẽ thiếu nhân văn, khó bền vững. Do đó, chiều sâu trong quan điểm Hồ Chí Minh chính là sự thống nhất giữa kính trọng, chăm lo, tin tưởng, tổ chức và tạo điều kiện để người cao tuổi đóng góp phù hợp với sức khỏe, khả năng và nguyện vọng.
2. Phát huy vai trò người cao tuổi - yêu cầu khách quan và nguồn lực xây dựng Hội vững mạnh trong bối cảnh mới
Già hóa dân số đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản cách nhìn về người cao tuổi
Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn “già hóa dân số” sang một xã hội có tỷ trọng người cao tuổi ngày càng lớn với tốc độ rất nhanh. Theo cơ sở dữ liệu dân cư của Bộ Công an (7/3/2023), cả nước có gần 17 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng gần 17% dân số; dự báo đến năm 2036, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên sẽ chiếm khoảng 20% dân số. Trong khi đó, kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 xác định dân số Việt Nam tại thời điểm ngày 1/4/2024 là 101.112.656 người (12). Với quy mô đó, người cao tuổi đã trở thành bộ phận dân cư tác động trực tiếp đến an sinh, lao động và cấu trúc gia đình, cộng đồng.
Già hóa dân số một mặt chính là thành quả của phát triển, phản ánh tuổi thọ và điều kiện sống được cải thiện; mặt khác, tốc độ già hóa nhanh cũng đặt ra những yêu cầu chưa từng có. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 2024 đạt khoảng 74,7 tuổi (13), nhưng số năm sống khỏe mạnh chưa tăng tương ứng; nhu cầu quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng, chăm sóc dài hạn và chăm sóc tại nhà ngày càng lớn. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VII cho biết khoảng 2 triệu người cao tuổi đang hưởng trợ cấp xã hội; 4,5 triệu người có hồ sơ theo dõi sức khỏe; 5 triệu người được khám sức khỏe định kỳ; trên 96% có thẻ bảo hiểm y tế. Cả nước có 609 cơ sở chăm sóc người cao tuổi, đang chăm sóc, nuôi dưỡng hơn 15.000 người. Kết quả đó rất quan trọng, nhưng khi đặt cạnh quy mô gần 17 triệu người cao tuổi cho thấy hệ thống chăm sóc chính thức vẫn cần tiếp tục được mở rộng, nhất là dịch vụ tại cộng đồng và đối với người cao tuổi yếu thế.
Quy mô gia đình thu nhỏ, di cư lao động và con cháu làm việc xa nhà cũng làm thay đổi mô hình chăm sóc truyền thống. Chuyển đổi số mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ nhưng đồng thời tạo khoảng cách số và nguy cơ lừa đảo đối với người thiếu kỹ năng công nghệ. Bởi vậy, thích ứng với già hóa dân số không thể chỉ mở rộng trợ cấp và chăm sóc mà phải nâng cao khả năng tự chủ, học tập, kết nối và tham gia xã hội. Đó chính là chuyển từ ứng phó thụ động với già hóa sang thích ứng chủ động, trong đó người cao tuổi vừa được bảo vệ, chăm sóc, vừa được nhìn nhận như một nguồn lực của phát triển.
Thực tiễn khẳng định sức đóng góp to lớn của người cao tuổi
Thực tiễn nhiệm kỳ 2021-2026 tiếp tục khẳng định người cao tuổi là nguồn lực phát triển. Trong xây dựng hệ thống chính trị và bảo đảm trật tự cơ sở, khoảng 750.000 người cao tuổi tham gia công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, thanh tra nhân dân và hòa giải; 85.530 người là bí thư hoặc cấp ủy viên chi bộ. Họ đã hòa giải thành công trên 94.600 vụ mâu thuẫn và cung cấp khoảng 196.000 nguồn tin có giá trị (14). Các số liệu này cho thấy uy tín, kinh nghiệm và sự am hiểu địa bàn của người cao tuổi có thể chuyển hóa thành năng lực xây dựng đồng thuận, phòng ngừa xung đột và củng cố nền tảng chính trị - xã hội từ cơ sở.
Trong phát triển kinh tế, trên 9 triệu người cao tuổi trực tiếp lao động, sản xuất; 455.267 người làm kinh tế giỏi, trong đó 321.718 người là chủ trang trại, chủ doanh nghiệp. Hoạt động của họ góp phần tạo việc làm cho gần 10 triệu lao động và nộp ngân sách gần 12.000 tỷ đồng (14) cho thấy người cao tuổi vẫn trực tiếp tạo ra của cải, việc làm và truyền kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh.
Trong xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và bảo vệ môi trường, người cao tuổi đóng góp trên 5,782 triệu ngày công, hiến trên 6,175 triệu m² đất, đóng góp hơn 452 tỷ đồng xây dựng hạ tầng; gần 300.000 người tham gia khuyến học, khuyến tài (15). Đây không chỉ là giá trị vật chất, mà còn là sự lan tỏa của tinh thần nêu gương: khi người cao tuổi đi đầu hiến đất, góp công, giữ gìn môi trường, vận động con cháu học tập và chấp hành pháp luật, đóng góp của một cá nhân có thể trở thành sự hưởng ứng của cả gia đình và cộng đồng.
Những kết quả trên đồng thời chỉ ra rằng, phát huy vai trò người cao tuổi phải dựa trên sự phù hợp, tự nguyện và tôn trọng khác biệt. Không phải mọi người cao tuổi đều có sức khỏe, điều kiện kinh tế hay khả năng tham gia như nhau. Có người phù hợp với hoạt động tư vấn, hòa giải; có người tiếp tục sản xuất, kinh doanh; có người có thể truyền nghề, dạy học, làm công tác khuyến học; cũng có người trước hết cần được chăm sóc và trợ giúp. Vì thế, thước đo đúng không phải là huy động được càng nhiều người làm cùng một việc, mà là tạo ra nhiều không gian cống hiến để mỗi người, tùy sức khỏe, kinh nghiệm và nguyện vọng, đều có cơ hội tiếp tục tạo giá trị.
Phát huy vai trò người cao tuổi - nguồn lực nội sinh xây dựng Hội vững mạnh
Đối với xây dựng Hội, vấn đề cốt lõi là chuyển những đóng góp của người cao tuổi thành nguồn lực nội sinh của tổ chức. Nhiệm kỳ 2021-2026, các cấp Hội kết nạp mới 2.308.828 hội viên, nâng tỷ lệ tập hợp lên khoảng 93,8%; gần 90.000 câu lạc bộ, thu hút trên 5,5 triệu người cao tuổi. Riêng Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau có khoảng 9.000 câu lạc bộ với 484.675 thành viên, trên 70% là người cao tuổi (16).
Mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau là minh chứng tiêu biểu cho sự thống nhất giữa chăm sóc và phát huy: các thành viên vừa được hỗ trợ sức khỏe, sinh kế, chăm sóc tại nhà, vừa tham gia quản lý, tình nguyện và giúp đỡ người yếu thế. Quyết định số 1648/QĐ-TTg ngày 6/8/2025 đặt mục tiêu đến năm 2035 có khoảng 21.000 câu lạc bộ với hơn 1 triệu thành viên (17), tạo cơ sở mở rộng những mô hình tương trợ gắn với phát huy vai trò người cao tuổi tại cộng đồng.
Tuy nhiên, tỷ lệ tập hợp cao chưa đồng nghĩa với chất lượng tham gia cao; số lượng mô hình lớn chưa bảo đảm hoạt động bền vững. Nhiều tiềm năng của người cao tuổi chưa được nhận diện, kết nối thành nguồn lực tư vấn, truyền nghề, chuyển giao tri thức và hỗ trợ cộng đồng. Vì vậy, trong điều kiện sắp xếp đơn vị hành chính và chuyển đổi số, xây dựng Hội cần chuyển mạnh từ “có tổ chức” sang “tổ chức có năng lực hành động”, từ tập hợp về số lượng sang nhận diện và phát huy chất lượng hội viên.
Phát huy người cao tuổi và xây dựng Hội vì thế có quan hệ hai chiều: Hội vững mạnh tạo môi trường và cơ hội cống hiến; hội viên được phát huy tốt lại bồi đắp uy tín, sức sống và năng lực hành động của Hội. Đây chính là cơ sở để nhiệm kỳ 2026-2031 coi phát huy vai trò người cao tuổi là nguồn lực nội sinh trực tiếp của quá trình xây dựng Hội vững mạnh.
3. Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh nhằm phát huy vai trò người cao tuổi, xây dựng Hội vững mạnh trong nhiệm kỳ 2026-2031
Quán triệt sâu sắc quan điểm Hồ Chí Minh trong nhận thức và xác lập nguyên tắc hoạt động của Hội
Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh phải được thể hiện trước hết ở việc chuyển hóa những chỉ dẫn của Người thành nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động cụ thể. Cần nhất quán nhận thức người cao tuổi vừa là đối tượng được bảo vệ, chăm sóc, vừa là chủ thể phát triển; đồng thời thể hiện nhận thức đó trong chương trình, nguồn lực và đánh giá hoạt động Hội. Bên cạnh chỉ tiêu chăm sóc, cần chú trọng cơ hội tham gia, nguồn lực được phát hiện, kinh nghiệm được chuyển giao và giá trị xã hội được tạo ra.
Thấm nhuần quan điểm “Tuổi cao chí càng cao” trước hết là thực sự tôn trọng, tin tưởng và không để định kiến tuổi tác làm lu mờ khả năng cống hiến. Tuy nhiên, tin tưởng không có nghĩa là huy động đồng loạt hay đặt ra yêu cầu vượt quá sức khỏe. Theo tinh thần Hồ Chí Minh, phải đánh giá đúng thế mạnh của từng người, tạo cơ hội tự nguyện và phù hợp để kinh nghiệm, uy tín, chuyên môn và tinh thần nêu gương được phát huy; không hành chính hóa hay lấy mức độ tham gia phong trào làm thước đo duy nhất.
Đồng thời, phải giữ vững nguyên tắc chăm sóc đi đôi với phát huy. Hội vững mạnh trước hết phải bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, chăm lo hội viên yếu thế, đồng thời tạo điều kiện để người cao tuổi duy trì tự chủ, học tập, kết nối và tham gia xã hội. Theo chỉ dẫn “người già yếu thì được giúp đỡ” và quan điểm sức khỏe của mỗi người gắn với sức mạnh của cả nước, hoạt động Hội cần lấy sự an toàn, sức khỏe, phẩm giá, mức độ hài lòng và hạnh phúc của người cao tuổi làm thước đo; từ nền tảng đó mở ra các cơ hội cống hiến thích hợp.
Xây dựng Hội vững mạnh theo phương pháp Hồ Chí Minh: đánh giá đúng lực lượng, tổ chức phù hợp và phát huy đúng thế mạnh
Bài học từ việc Hồ Chí Minh chỉ đạo thành lập Phụ lão cứu quốc Hội cho thấy tiềm năng chỉ trở thành sức mạnh khi được tổ chức. Vì vậy, nhiệm kỳ 2026-2031, Hội cần nâng cao năng lực phát hiện, tập hợp, kết nối và phát huy hiệu quả nguồn lực người cao tuổi. Trước hết, cần củng cố tổ chức Hội sau sắp xếp đơn vị hành chính, bảo đảm hoạt động thông suốt, gần cơ sở, sát hội viên; xây dựng đội ngũ cán bộ có uy tín, trách nhiệm, kỹ năng dân vận, chuyển đổi số và khả năng khơi dậy tinh thần tự nguyện.
Cùng với đó, chuyển từ quản lý hội viên chủ yếu theo tuổi, hoàn cảnh sang nhận diện và phát huy theo năng lực, kinh nghiệm, sở trường, nguyện vọng; từng bước xây dựng danh mục nguồn lực trên các lĩnh vực, tận dụng dữ liệu hiện có, không làm phát sinh bộ máy. Đồng thời, đa dạng hóa hình thức tập hợp theo chuyên môn, sở thích; phát triển mô hình liên thế hệ, kết nối người mới nghỉ hưu và tăng cường phối hợp với các tổ chức, cơ quan liên quan. Cốt lõi là giúp mỗi hội viên tìm thấy vị trí và khả năng đóng góp phù hợp.
Phong trào “Tuổi cao - Gương sáng” cần chuyển mạnh từ biểu dương danh hiệu sang nêu gương bằng hành động. Tinh thần “Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng. Phụ lão làm, nhân dân làm theo” (18) phải được cụ thể hóa bằng những đóng góp thiết thực cho cộng đồng, lấy hiệu quả xã hội và sức lan tỏa làm thước đo.
Mở rộng không gian cống hiến, tạo động lực phát huy vai trò người cao tuổi trong giai đoạn mới
Một là, phát huy uy tín người cao tuổi trong xây dựng Đảng, chính quyền và củng cố đồng thuận xã hội. Các cấp Hội cần tham mưu tạo cơ chế thực chất để người cao tuổi có uy tín tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền, giám sát, phản biện xã hội, thanh tra nhân dân, hòa giải và tự quản ở cộng đồng. Việc phát huy không chỉ dừng ở “mời tham gia” mà cần bảo đảm ý kiến được lắng nghe, phản hồi và chuyển hóa thành giải pháp phù hợp, qua đó phát huy thế mạnh về uy tín, kinh nghiệm và khả năng quy tụ của người cao tuổi.
Hai là, tăng cường trao truyền liên thế hệ gắn với học tập suốt đời. Theo tinh thần “khua gậy đi trước”, cần mở rộng các hoạt động giáo dục truyền thống, khuyến học, truyền nghề, bảo tồn di sản và đối thoại liên thế hệ; phát huy kinh nghiệm, bản lĩnh, giá trị văn hóa của người cao tuổi đồng thời tranh thủ tri thức mới, công nghệ và sức sáng tạo của thế hệ trẻ. Quán triệt tinh thần “Còn sống còn phải học”, Hội cần hỗ trợ người cao tuổi cập nhật kiến thức, kỹ năng số và thích ứng với những biến đổi của xã hội, từng bước phát triển hình thức “người cao tuổi giúp người cao tuổi” trong học tập và chuyển đổi số.
Ba là, phát huy vốn trí tuệ, kinh nghiệm gắn với chăm sóc và hỗ trợ người cao tuổi tiếp tục cống hiến. Cần xây dựng các nhóm tư vấn, mạng lưới chuyên gia hoặc “ngân hàng kinh nghiệm” của người cao tuổi trong giáo dục, y tế, khoa học, quản lý, sản xuất, nghề truyền thống; kết nối với truyền nghề, hỗ trợ khởi nghiệp, phát triển kinh tế xanh và kinh tế bạc. Đồng thời, các mô hình câu lạc bộ Liên thế hệ, chăm sóc cộng đồng, hỗ trợ sinh kế cần kết hợp hài hòa giữa chăm sóc và phát huy: người khỏe giúp người yếu, người có kỹ năng hỗ trợ người chưa có kỹ năng, người có kinh nghiệm tư vấn cho thế hệ sau. Mục tiêu là tạo cơ hội cống hiến phù hợp với sức khỏe, khả năng và nguyện vọng của mỗi người.
Bốn là, đổi mới tiêu chí đánh giá hoạt động Hội theo hướng thực chất, lấy con người và giá trị xã hội làm trung tâm. Hiệu quả hoạt động không chỉ đo bằng số hội viên, mô hình hay danh hiệu thi đua mà cần căn cứ vào mức độ bảo đảm quyền lợi, mở rộng cơ hội tham gia và phát huy đóng góp của người cao tuổi. Số nguồn lực được phát hiện, kinh nghiệm được chuyển giao, hội viên yếu thế được hỗ trợ và vấn đề cộng đồng được giải quyết cần trở thành những chỉ báo quan trọng về chất lượng hoạt động Hội.
Phát huy vai trò người cao tuổi theo quan điểm Hồ Chí Minh vì thế không phải là gắn thêm một số lời dạy của Người vào hoạt động Hội, mà là thấm nhuần cả cách nhìn và phương pháp: kính trọng để quy tụ; tin tưởng để khơi dậy; đánh giá đúng để giao việc phù hợp. Khi những nguyên tắc ấy trở thành phương thức hoạt động thường xuyên, Hội Người cao tuổi Việt Nam sẽ được xây dựng vững mạnh từ chính trí tuệ, uy tín, trách nhiệm và sức sáng tạo của hội viên.
Phát huy tinh thần “Tuổi cao chí càng cao”, làm sâu sắc phong trào “Tuổi cao - Gương sáng”, khơi dậy hào khí Diên Hồng trong thời đại mới là con đường để người cao tuổi tiếp tục làm điểm tựa của gia đình, cộng đồng và đất nước. Đó cũng là nền tảng để Hội Người cao tuổi Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031 thực sự là mái nhà chung của người cao tuổi, cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân và lực lượng nòng cốt trong xây dựng một xã hội phát triển, nhân văn, không để người cao tuổi nào bị bỏ lại phía sau.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.233
(2) Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi, https://hochiminh.vn/tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh/nghien-cuu-tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-nguoi-cao-tuoi-7534
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.23
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.691
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.232
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.233
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.23
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.692
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.113
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.5
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.241
(12) Cục Thống kê: Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, công bố ngày 6/1/2025, https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ket-qua-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-giua-ky-nam-2024/
(13) UNFPA Việt Nam: “Need to adopt a gender-transformative, rights- and life-cycle-based approach…”, công bố số liệu tuổi thọ năm 2024, https://vietnam.unfpa.org/en/news/need-adopt-gender-transformative-rights-and-life-cycle-based-approach-facilitates-adaptation
(14) Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khóa VI trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031
(15) Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khóa VI trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031
(16) Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khóa VI trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031
(17) Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 1648/QĐ-TTg ngày 6-8-2025 phê duyệt Đề án nhân rộng Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau đến năm 2035
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.233


