Miền Trung quê tôi, mùa mưa dư nước, mùa nắng hạn hán, đã bao đời người nông dân đã quen với điệp khúc khắc nghiệt ấy của thiên nhiên. Ngậm ngùi thay tạo hóa chẳng cho vay mượn, chỉ tiếc là chẳng có cách nào để trữ nước mùa lũ để bù nước cho mùa hạ cằn khô, cũng chẳng có cách nào để cất giấu chút nắng thừa để sưởi ấm những ngày Đông tê tái. Thế nhưng, người nông dân quê tôi vẫn kiên cường bám đất, tìm cách dẫn dòng nước về tắm mát cho những thửa ruộng đang mỏi mòn ngóng mưa.
Có lẽ thế, người nông dân chân chất thật thà làm ra chiếc gàu sòng. Chiếc gàu sòng có tự bao giờ, chẳng ai biết, mà chỉ biết nó đi vào câu ca dao ngàn xưa, gắn bó thủy chung bên những thửa ruộng cằn khô. Người dân quê tôi chẳng mấy ai câu nệ rạch ròi gàu sòng với gàu dai, chỉ gọi chung một tiếng “cái gàu tát nước” mộc mạc, thân thương vậy thôi. Chúng hóa thành bà Tiên, ông Bụt mang nước về tưới đẫm ruộng lúa đang khô hạn.
![]() |
| Minh họa N.A |
Chái hiên bên phải ngôi nhà trở thành giang sơn để chứa đựng tài sản làm nông trong nhà, nơi ông ngoại dùng để cất chiếc xe bò sau mỗi ngày lên rừng đốn củi. Trên mái chái, ông bắc giàn tre, treo đủ thứ: Roi mây, thúng mủng, nong nia, cái trang cào lúa, và cả chiếc gàu tát nước nằm lẩn khuất trong góc. Chiếc gàu ấy ông mua từ một người bán dạo, trên chiếc xe đạp cọc cạch chất đầy nông cụ mây tre đan. Người bán rong ruổi từ tận Thanh Hóa, Thái Bình xa xôi vào đây để bán. Ông luôn gìn giữ chiếc gàu cẩn thận. Một phần vì đó là tiền ông bỏ ra mua, một phần vì sự trân trọng dành cho công sức người làm ra nó, và cả cho những người không quản nhọc nhằn chở nó vào tận đây để bán cho ông.
Những đêm dài mùa Hạ, ngồi bên ấm chè xanh dưới mái hiên nhà, ông ngẩng đầu nhìn bầu trời chăm chú, như nhà dự báo thời tiết, ông chép miệng, thì thầm “không mưa nổi, nỏ đợi nữa”. Hôm sau, khi hoàng hôn buông xuống, tôi lẽo đẽo bước theo ông trên những bờ ruộng mấp mô. Dáng ông nhỏ nhắn nhanh nhẹn, bước thoăn thoắt đến bên thửa ruộng. Trên đôi bờ vai ông, chiếc áo đã bạc màu vì mưa nắng vác chiếc gàu sòng và những thanh tre dài, thong thả bước đi trong ráng chiều nhuộm tím cả cánh đồng. Đến nơi, tôi phụ giúp ông giữ mấy thanh tre làm giàn đỡ, treo gàu. “Kiểm tra cho chắc nhé” - ông ân cần dặn: “Con cứ loanh quanh mấy chỗ cạn xem sao, có khi bắt được mẻ ốc. Tối về ngâm nước gạo, mai bà ngoại hấp sả cho mà ăn”. Tôi bắt ốc, chốc chốc ngẩng lên, dưới bóng hoàng hôn ráng đỏ, hình ảnh ông ngoại lom khom tát nước gàu sòng đã in sâu trong ký ức tôi và theo tôi mãi đến bây giờ.
Nước từ gầu sòng chảy vào ruộng, thẫm đẫm gốc lúa, những cây lúa như sực tỉnh sau cơn mê lụi bởi nắng hạn, nay reo vui trong gió. Lâu lắm mới xong, vì ruộng khô cằn, đất tơi như miếng xốp, vừa gặp nước là hút ngay rồi ngấm đâu mất. Thế nên ông tát từ đầu hôm đến khi trăng lên cao mà vẫn chưa hết việc. Thỉnh thoảng, ông ngồi xuống nghỉ ngơi, vấn một điếu thuốc bọ, hít một hơi thật sâu rồi lặng lẽ nghĩ ngợi. Tôi lại gần, thay ông đưa mấy đường gàu cạn, tôi chẳng tát được bao nhiêu chỉ là tập dần cho quen.
Công việc tát nước gàu sòng đòi hỏi sức dẻo dai, bền bỉ và kiên trì. Người tát phải chọn đúng tư thế, đứng vững để khỏi trượt ngã, đôi tay nhịp nhàng mới có thể trụ lâu. Nhiều chàng trai trẻ nóng vội, chưa kịp quen đã bỏ cuộc. Ông tôi cười bảo mình có sức có khi thua cả những cô thôn nữ vốn mang tiếng chân yếu tay mềm. Đôi khi, với những cô thôn nữ, việc tát nước cũng là cách để chứng tỏ sự khéo léo, khiến bao chàng trai thầm thương trộm nhớ, mong một ngày rước nàng về lo toan việc nhà, cho lúa thêm xanh, thóc đầy bồ, cơm trắng cá kho thơm chén con thơ. Bên chiếc gàu sòng ấy, biết bao lời ướm hỏi, câu hò hẹn đã thành thơ, thành nhạc, đi vào ca dao, dân ca hội làng mùa Xuân: “Hỡi o tát nước bên đàng. Sao o múc ánh trăng vàng đổ đi?”
Tôi nghe văng vẳng gần xa có tiếng cười khanh khách của các cô thôn nữ tát nước, hòa vào tiếng nước ì oạp, và cả những câu đối đáp chanh chua nửa đùa nửa thật, làm bao chàng trai si tình vừa say mê vừa ngẩn ngơ, để rồi hi vọng tan vỡ như ánh trăng khi tròn khi khuyết, loang loáng trong chiếc gàu bên bờ ao.
Kỷ niệm tát gàu sòng đọng lại trong ký ức của tôi, còn là lần hai cậu cháu tôi đi tát gàu sòng. Tôi không thể tin nổi, khi cả đời cậu gắn với công việc kỹ thuật ở sân bay Quân đội, mỗi lần về quê chỉ thoáng chốc rồi đi, chưa bao giờ thấy cậu làm ruộng. Thế mà chiều hôm ấy, sau khi phải nhận quyết định nghỉ hưu truớc tuổi, tôi ngạc nhiên khi cậu thong thả vác chiếc gàu dai ra đồng. Tôi chạy theo xem cậu có biết tát nước không. Cậu tôi tát rất giỏi, khi cậu nghỉ tôi cố gắng cùng cậu khom lưng tát nước, đến khi ruộng ngập sâm sấp nửa cây lúa thì thôi. Khi nước đã tát đầy, tôi lại ngạc nhiên thêm lần nữa, khi cậu bất chợt nhảy tòm xuống dòng sông Trường Lương xanh mát. Tôi lo lắng gọi với: “Cậu có biết bơi không?”. Đáp lại chỉ là tiếng cười vang ngập mặt sông, cùng đôi tay đôi chân khua khoắng như cá bơi giữa dòng. Buổi chiều hôm ấy, cậu như được trở về tuổi trẻ, được dòng sông quê hương ôm vào lòng, rũ bỏ hết ưu phiền ngoài kia.
Suốt quãng đường về nhà, tôi giành lấy việc vác chiếc gàu dai. Tôi chợt nhận ra, cuộc đời cũng như chiếc gàu tát nước, luôn bị níu giữ bởi những sợi dây gia đình, công danh, sự nghiệp… Đôi khi thấy chơi vơi, trách cứ vì sao ta phải lựa chọn giữa bao ngã rẽ cuộc đời. Gia đình, quê hương cứ như sợi dây vô hình. Nhưng ngẫm lại, cũng chính những ràng buộc ấy mới giúp ta tồn tại và sống cho hết kiếp sống của con người. Tôi nghĩ thôi thì mình cứ sống như chiếc gàu dai, gàu sòng, cả đời lặng lẽ góp sức cho một mùa vàng bội thu.


