Ở tuổi 85, mắt đã mờ, lưng đã còng, cụ không còn nhớ hết những chuyện mới xảy ra, nhưng ký ức về người chồng năm xưa thì vẫn nguyên vẹn. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày nhận giấy báo tử, điều cụ đau đáu nhất không phải những năm tháng góa bụa hay một mình nuôi con khôn lớn, mà là đến tận hôm nay vẫn chưa biết người chồng của mình đang nằm lại nơi đâu.
“Tôi chỉ mong trước khi nhắm mắt còn được biết ông ấy ở đâu để đến thắp cho ông một nén hương”, cụ nói, ánh mắt hướng ra khoảng núi mờ xa.
Câu chuyện của cụ bắt đầu từ những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ trước. Khi ấy, bản Đôm còn nghèo, những nếp nhà sàn nép mình dưới chân núi, cuộc sống của bà con chủ yếu dựa vào nương rẫy. Quỳ là cô gái người Thái xinh đẹp, hiền lành, được nhiều chàng trai để ý, nhưng lại đem lòng thương Lô Xuân Vọng, chàng trai cao lớn, ít nói, quanh năm chỉ biết lên nương, xuống ruộng và hết lòng với gia đình.
![]() |
| Người phụ nữ bản Thái ấy đã đi gần hết cuộc đời mình nhưng vẫn giữ lời hẹn ước năm xưa với người chồng liệt sĩ của mình. |
Năm 1959, họ nên duyên vợ chồng. Đám cưới giản dị như bao đôi vợ chồng trẻ ở miền sơn cước ngày ấy, không có của cải đáng giá, chỉ có niềm tin rằng, vợ chồng đồng lòng thì cuộc sống nào cũng sẽ vượt qua. Ba năm sau, con trai đầu lòng Lô Xuân Thạch chào đời. Tiếng cười trẻ thơ khiến căn nhà sàn nhỏ lúc nào cũng rộn rã. Cụ Quỳ vẫn nhớ những buổi tối hai vợ chồng quây quần bên bếp lửa, cùng nhau tính chuyện làm ăn, nuôi con khôn lớn. Hạnh phúc của họ bình dị đến mức sau này mỗi lần nhớ lại, cụ chỉ bảo: “Ngày ấy nghèo nhưng vui lắm”.
Tháng 4/1963, cụ Lô Xuân Vọng lên đường nhập ngũ. Đứa con trai khi ấy mới hơn một tuổi, còn chưa kịp gọi tiếng “cha”. Sáng tiễn chồng, người vợ bế con đứng ở đầu bản. Người chồng cứ đi được vài bước lại ngoái đầu nhìn vợ con. Còn người vợ cố giấu nước mắt, chỉ dặn chồng giữ gìn sức khỏe rồi chờ ngày trở về. Đó là lần cuối cùng vợ chồng họ được nhìn thấy nhau.
Những năm sau đó, tin tức từ chiến trường về rất ít. Đến năm 1968, gia đình mới nhận được lá thư đầu tiên cũng là lá thư duy nhất ông gửi từ Quảng Ngãi. Trong thư, ông chỉ hỏi thăm cha mẹ, dặn vợ chăm sóc con trai và nhắn rằng, nếu còn sống, nhất định sẽ trở về.
Ở quê nhà, cụ Quỳ gác nỗi nhớ chồng để chăm lo gia đình. Ban ngày bà lên nương, xuống ruộng, tối đến tham gia công tác của bản. Năm 1967, cụ trở thành nữ đảng viên đầu tiên của bản, rồi làm y tá thôn bản. Chiếc túi thuốc theo cụ băng rừng, vượt suối đến với những người đau ốm. Ai cũng bảo người phụ nữ ấy mạnh mẽ, nhưng chỉ có bà mới hiểu, càng bận rộn bao nhiêu thì nỗi nhớ chồng càng được giấu kín bấy nhiêu.
10 năm sau ngày tiễn chồng lên đường, chiến tranh mang về bản Đôm một tin dữ. Hôm ấy, cụ đang đi công tác cách nhà hơn 30 km thì nhận được tin ông Vọng đã anh dũng hy sinh. Khi đó, cụ mới hơn 30 tuổi. Con còn nhỏ, phía trước là cả quãng đời dài với biết bao vất vả. Nhiều người thương, khuyên cụ đi thêm bước nữa để có chỗ dựa. Ngay cả cha chồng cũng từng nhẹ nhàng bảo con dâu hãy nghĩ đến tương lai của mình. Cụ chỉ khẽ lắc đầu: “Con chỉ lấy một chồng”.
![]() |
| Hai mẹ con Lô Thị Qùy, Lô Xuân Trạch nâng niu kỷ vật của chồng, của cha mình- liệt sĩ Lô Xuân Vọng. |
Một câu nói mộc mạc, nhưng cụ đã dành cả phần đời còn lại để giữ trọn lời mình nói. Hơn 50 năm qua, cụ lặng lẽ thờ chồng, một mình nuôi con trưởng thành, dựng vợ gả chồng cho con, rồi chăm cháu, chăm chắt. Cuộc sống biết bao đổi thay, nhưng nỗi nhớ người chồng nơi chiến trường là chưa một ngày vơi bớt.
Điều khiến cụ day dứt nhất không phải những tháng năm vất vả, mà là chồng đã hy sinh hơn nửa thế kỷ vẫn chưa tìm được phần mộ. Mỗi dịp giỗ hay ngày 27/7, cụ lại lau tấm ảnh cũ của chồng, thay bát nước trên bàn thờ rồi ngồi thật lâu trước làn khói hương. Có những lời khấn chỉ mình cụ nghe thấy.
Ngồi bên mẹ, ông Lô Xuân Thạch cẩn thận mở chiếc hộp đựng những kỷ vật ít ỏi của cha. Ngoài lá thư đã ngả màu theo năm tháng là tờ giấy báo tử được gia đình gìn giữ. Ông bảo mình lớn lên chỉ qua những câu chuyện mẹ kể. Hình dung về cha là một người lính trẻ mãi mãi dừng lại ở tuổi thanh xuân.
Nhiều năm qua, ông đã tìm đến đồng đội cũ của cha, gửi thông tin đến các cơ quan chức năng, dò hỏi ở nhiều nơi với hy vọng tìm được phần mộ. Mỗi khi có một manh mối mới, cả gia đình lại thấp thỏm. Rồi khi hy vọng khép lại, cụ Quỳ vẫn lặng lẽ cất tờ giấy báo tử vào chiếc hòm gỗ cũ, tiếp tục chờ.
Những ngày gần đây, niềm hy vọng ấy được nhen lên khi gia đình được lấy mẫu ADN phục vụ công tác xác định danh tính liệt sĩ còn thiếu thông tin. Cụ Quỳ không hiểu nhiều về khoa học, nhưng cụ tin rằng, nếu còn cơ hội thì gia đình nhất định không bỏ cuộc.
“Tôi không mong gì cho mình nữa, chỉ mong biết ông ấy nằm ở đâu”. Câu nói nhẹ như gió núi, nhưng chứa đựng cả quãng đời chờ đợi của một người vợ.
Rời căn nhà sàn khi chiều đã buông xuống, hình ảnh khiến chúng tôi nhớ mãi là dáng cụ Quỳ cẩn thận gấp lại tờ giấy báo tử, đặt vào chiếc hòm gỗ rồi khép nắp thật chậm. Có lẽ động tác ấy đã lặp đi lặp lại hàng nghìn lần trong hơn 50 năm qua, như một cách gìn giữ ký ức và cũng là gìn giữ niềm hy vọng.
Chiến tranh đã lùi xa. Những người lính năm nào, nếu còn sống, nay đều đã bước vào tuổi xưa nay hiếm. Chỉ có cuộc chờ đợi của người vợ liệt sĩ nơi bản nhỏ vẫn chưa kết thúc. Ở chặng cuối của cuộc đời, cụ không mong một sự đền đáp nào lớn lao. Điều cụ mong mỏi chỉ là một ngày nào đó được đứng trước phần mộ của chồng, thắp một nén hương, khẽ gọi tên ông như ngày tiễn ông lên đường. Có lẽ, sau hơn nửa thế kỷ, đó sẽ là cuộc đoàn tụ bình yên nhất của một lời hẹn còn dang dở.
Tin tức bạn quan tâm
Người cao tuổi Thiệu Toán thi đua làm giàu, lan tỏa giá trị nhân văn
Đại hội Hội Người cao tuổi phường Xuân Hương – Đà Lạt: Đoàn kết, đổi mới, phát triển
Hội NCT tỉnh Thanh Hóa: Chuẩn bị chu đáo cho Đại hội đại biểu lần thứ IV, nhiệm kỳ 2026-2031
CLB Liên thế hệ tự giúp nhau thôn Viêm Khê: Điểm sáng chăm lo toàn diện người cao tuổi
Trải nghiệm khám sức khỏe “0 đồng”
Cụm thi đua số I Hội Người cao tuổi Việt Nam: Tăng cường liên kết, lan tỏa phong trào “Tuổi cao - Gương sáng”
Cụm thi đua số I Hội Người cao tuổi TP Hà Nội quyết tâm hoàn thành tốt các nhiệm vụ trọng tâm


