Xa quê đi... trồng rau
Ông Vũ Minh Đức đưa vợ rời quê Ý Yên (Nam Định) vào thuê đất trồng rau ở ấp 6 (xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn) từ năm 2013. “Thuê 2.500m2 đất, gia đình phải trả 28 triệu đồng/năm”, ông Đức cho biết. Thế nhưng để có được “cơ ngơi” rau xanh như hôm nay, ông đã mất khá nhiều công sức và tiền của. Ngày đầu, ông sang lại vườn rau từ người làm trước với giá 100 triệu đồng chỉ gồm một căn chòi xập xệ và 2.500 m2 đất đã cải tạo từ ruộng lầy. Ông phải đầu tư thêm 12 triệu để làm 90 bể tưới cùng hệ thống ống dẫn, mua máy làm đất, mua phân gà ủ...
“Khi đất có thể bắt đầu khai thác thì đó cũng là thời gian người trồng rau “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, hai vợ chồng làm luôn tay luôn chân từ sớm đến tối mịt mới xong việc ngoài vườn. Gần sáng lại phải đưa rau ra chợ đầu mối bán để được giá hơn bán cho thương lái. Từ đó, lại bắt đầu vòng quay liên tục của một ngày mới”, ông Đức nói.
.jpg)
Hôm chúng tôi đến, vườn rau của vợ chồng ông đang lên xanh các loại mùng tơi, xà lách, cải ngọt, cải nhúng... Bà Nguyễn Thị Thơm, vợ ông Đức cho biết mùa này rau tương đối được giá. Cải ngọt, cải xanh từ 8-10 nghìn đồng/kg, xà lách từ 12-14 nghìn đồng/kg. Bình quân, mỗi ngày ông bà cắt nhập cho thương lái hoặc chợ đầu mối Hóc Môn chừng 120-170kg rau/ngày. Trừ tất cả các chi phí, mỗi năm để dành xấp xỉ 100 triệu đồng. Đó là con số không nhỏ đối với những gia đình làm nông ở quê. Việc ổn định cuộc sống với cây rau vùng ven TP Hồ Chí Minh là điều ông bà rất muốn duy trì lâu dài.
Hiện tại, toàn xã Đông Thạnh có 154 hộ trồng rau, với tổng diện tích canh tác 44 ha, trong đó có 153 hộ là người ngoại tỉnh, nhiều nhất đến từ Nam Định.

Bà Lê Thị Ngọc Bích, Phó Chủ tịch UBND xã Đông Thạnh cho biết: “Trên thực tế diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã còn nhiều đất nhưng hiệu quả sản xuất nông nghiệp kinh tế còn thấp. Nguyên nhân cơ bản do xã chưa có HTX nông nghiệp chuyên thu mua rau của bà con nông dân, chi phí sản xuất cao nhưng giá bán thấp và bấp bênh nên người dân không mạnh dạn đầu tư…”.
Ở “làng rau” ấp Tam Đông 2 (xã Thới Tam Thôn), chúng tôi gặp ông Lâm Văn Dũng, một người dân gốc địa phương trồng rau từ 8 năm nay, có vườn rau trên 2.200m2. Đây từng là mảnh ruộng được gia đình trồng lúa một vụ và rau củ quả cho đến khi con kênh Trần Quang Cơ được đào gần đó để phục vụ công tác thủy lợi, hỗ trợ hoạt động canh tác, sản xuất nông nghiệp. Thế nhưng, con kênh này lại hút hết nước làm đất ruộng xung quanh trở nên khô hạn và không thể trồng được lúa như trước đây. Từ đó, người dân phải bán đất hoặc cho người từ nơi khác đến thuê đất trồng rau. Chỉ còn một số ít dân gốc địa phương bám trụ lại phần đất hương hỏa với nghề trồng rau, gia đình ông Lâm Văn Dũng là một ví dụ.
Để cây rau xanh phát triển trên vùng đất thiếu nước này không phải dễ. Với 4 giếng khoan rải trong khu ruộng, ông và vợ cùng anh em trong nhà phải thay nhau tưới thường xuyên. “Sống về đêm là nhiều nhất, nhổ rau thì phải nhổ buổi chiều cho mát, rau tươi thì mới bán được. Xong mình đem vô xịt nước giữ tươi, rồi đem ra chợ bán lúc đêm khuya. Có khi đắt thì bán về sớm, có khi ở suốt đêm bán ngoài đó, cũng có lúc bán không được phải đổ bỏ”, ông Dũng nói.

Từ vườn rau trên 2.200m2 của mình, với 2 người em cùng làm, sau khi trừ chi phí, chia đều mỗi gia đình cũng chỉ còn lại chừng gần 20 triệu đồng mỗi năm.
Nỗi niềm làng rau
Theo Chương trình mục tiêu phát triển rau an toàn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh (giai đoạn 2016-2020) do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt ra, đến năm 2020 diện tích gieo trồng đủ điều kiện sản xuất rau an toàn đạt 16.319ha, giá trị sản xuất đạt trên 600 triệu đồng/ha/năm. Trong đó, trên 90% các tổ chức, cá nhân tại các vùng sản xuất rau an toàn tập trung được giám sát kiểm tra, bảo đảm đủ điều kiện sản xuất, sơ chế sản phẩm rau, quả an toàn phù hợp theo tiêu chuẩn VietGAP. Riêng huyện Hóc Môn phấn đấu năm 2020 diện tích canh tác rau an toàn là 200 ha; định hướng năm 2025 là 215 ha tại các xã Xuân Thới Sơn, Thới Tam Thôn, Nhị Bình.
Tuy nhiên, theo bà Lê Thị Ngọc Bích, Phó Chủ tịch UBND xã Đông Thạnh, thì “Một bộ phận không nhỏ các hộ dân cho người nhập cư thuê đất để trồng rau, dẫn đến việc vùng rau trở thành manh mún nhỏ lẻ, ảnh hưởng đến tính ổn định sản xuất và gây khó khăn trong việc quản lí tạo điều kiện sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp không an toàn”.
Vẫn còn đó nhiều nỗi niềm bất an cho người di cư đến trồng rau vùng ngoại thành. Chấp nhận đầu tư cả trăm triệu đồng cho hệ thống tưới tiêu, lưới, giống… và rất nhiều công sức cải tạo đất, họ lại không được bảo đảm chắc chắn nào cho việc ổn định lâu dài. Bởi chủ đất chỉ đồng ý ở hợp đồng đầu tiên là cho thuê với thời hạn 3 năm, sau đó chỉ một năm, để dễ tăng giá cũng như dễ chấm dứt hợp đồng. “Hầu hết đất ở Hóc Môn đều đợi đô thị hóa, chủ đất cũng đợi thời cơ có giá là bán”, chị Dinh chia sẻ.
Cũng trong ấp Tam Đông 2, vườn rau 2.000m2 của gia đình chị Lê Thị Bình đang phấp phỏng sợ bị chủ đất thu lại. Chị lo lắng: “Mới làm được 3 năm, bao nhiêu vốn liếng dồn cả vào đấy, vẫn chưa lấy lại đủ thì chủ đất đã báo sẽ kết thúc hợp đồng để bán đất”. Từ Quỳnh Xuân (Quỳnh Lưu, Nghệ An) vào đây, việc thuê đất trồng rau tuy biết là tạm bợ nhưng theo chị Bình, vẫn cho thu nhập dễ thở hơn so với trồng lúa, có thêm tiền lo cho 2 đứa nhỏ học hành.
Việc phát triển một vành đai rau xanh an toàn quanh thành phố theo tiêu chuẩn VietGAP là rất đúng đắn và cấp thiết. Nhưng với tốc độ đô thị hóa như hiện nay, quỹ đất vốn đã ít ỏi đang bị thu hẹp lại từng ngày. Ngoài ra, người dân từ các vùng quê xa xôi đang rất phấp phỏng trước viễn cảnh bị lấy lại ruộng. Hơn thế, việc đầu tư đồng bộ bằng Khoa học công nghệ, bằng bao tiêu sản phẩm, ổn định giá cả và cho sản xuất lâu dài vẫn tiến triển chậm và chưa có sự liên kết chặt chẽ từ chính quyền đến những hộ dân trồng rau di cư từ các tỉnh phía Bắc.
Phóng sự của Trần Hải
