Năm Ngọ nói chuyện về ngựa
Nhịp sống văn hóa 17/02/2026 08:13
Dân Nam Bộ chế biến bánh tét một cách tài tình và phong phú, tùy theo địa phương mà thêm thắt gia vị cho thích khẩu. Có chỗ gói nếp với nhân đậu xanh một miếng thịt theo chiều dài đòn bánh. Có nơi làm bánh tét lá cẩm, lá dứa, bánh tét gấc, bánh tét ngũ sắc, bánh tét khắc chữ… Cũng có chỗ không thuần nếp mà trộn lẫn đậu đen để tăng chất lượng vừa đẹp, vừa bùi. Đặc biệt, Đồng bằng sông Cửu Long, những gia đình giàu có, con cháu đông thường gói bánh tét rất lớn (1kg 1 chiếc).
Công việc gói bánh khá tỉ mỉ. Đây là dịp để các thôn nữ vùng đất phương Nam trổ tài khéo léo qua những đòn bánh tét tròn trĩnh, đầy đặn và đẹp mắt. Trước tiên, là việc cắt lá chuối, phải đi vào lúc sáng sớm thì lá mới tươi, rồi rọc lá thành từng miếng vuông vức… Bên cạnh đó, đem nếp và đậu đen vo sạch để ráo nước. Lá dứa hay lá bồ ngót đâm nhuyễn lọc lấy nước trộn hòa vào nếp. Đậu xanh cà, đãi vỏ để sống. Thịt ba rọi (rửa sạch mỡ) cắt vuông vắn đặt theo chiều dài đòn bánh đã được ướp trước cho thấm vào hành, muối, đường… Có như thế, thịt mới trong, mới đẹp để khi tét bánh ra, thịt hòa tan vào nhân đậu xanh, đáp ứng tiêu chuẩn vừa béo của thịt - vừa bùi của đậu, của lòng đỏ hột vịt muối vừa dẻo của nếp, vừa thơm ngon…
![]() |
Mỗi lần gói bánh chí ít cũng năm, bảy chục đòn; có khi lên đến cả trăm đòn… tùy theo khả năng tài chính của mỗi gia đình. Hai đòn cột thành một cặp, có dây quai để xách cho tiện, làm quà tặng bà con mỗi người mỗi cặp vừa đẹp, vừa hợp với tập quán vì năm mới phải đủ đôi, chẵn cặp, ý chúc cho bà con đủ vợ, đủ chồng là niềm hạnh phúc, thịnh vượng. Bánh khi hấp phải thường xuyên canh chừng lửa, có khi từ đầu hôm, hấp suốt đêm đến sáu, bảy giờ sáng mới vớt ra. Để bánh mau chín, các bà nội trợ thường áp dụng một số mẹo vặt, như: Vắt chanh vào nếp hoặc ngâm nếp với nước khóm một thời gian chừng vài ba giờ. Không được ngâm lâu, sợ nếp rã thành bột. Lúc gói bánh, xếp lá chuối ở hai đầu, bẻ thành bốn góc rồi nức đòn bằng cọng dây chuối phơi khô cho dẻo, cắt nhỏ như dây lạt. Bánh tét gói bằng cọng dây chuối, khi nấu chín nếp nở ra, dây lạt cũng nở theo… Hiện cũng có chỗ nức đòn bằng dây chỉ nhựa…
Trong những ngày lễ, Tết cổ truyền, giỗ kị… người Nam Bộ thường làm bánh tét đãi khách và làm quà biếu. Những ngày đầu năm tét bánh ra đãi khách ăn với thịt kho tàu, chấm nước mắm, thật đậm đà hương vị ngày Xuân. Bánh tét ăn còn dư, nhằm đổi khẩu vị, người ta đem chiên với dầu hoặc mỡ phi tỏi, ăn thấy lạ miệng sau khi đã chán các món cao lương mĩ vị.
Theo lời kể của những bậc cao niên, sở dĩ người ta gọi bánh tét là vì ngày trước bánh này đã theo chân đoàn quân thần tốc của Bắc Bình Vương- Nguyễn Huệ! Để tiết kiệm thời gian cho khâu nấu nướng, hỏa đầu quân nghĩ ra cách gói bánh tét quăng xuống ao nước trên đường đánh giặc, tới chừng muốn ăn thì lội xuống vớt lên, cái bánh vẫn dẻo và ngon. Binh lính chỉ việc mở bỏ lá chuối ra, dùng chính cọng dây nức đòn bánh, quấn qua đòn bánh một vòng rồi siết hai đầu cọng dây thì đòn bánh sẽ được tét (cắt) ra thành từng khoanh tròn trịa, đẹp mắt…
Theo quan niệm dân gian, bánh tét sử dụng trong ngày Tết có ý nghĩa thương nhớ người xưa, cầu chúc cho gia đình ấm no, sum vầy, đa tạ trời đất đã cho người dân mùa màng thuận lợi, tươi tốt… Bánh tét được gói nhiều lá chuối bên ngoài tượng trưng cho người mẹ bao bọc lấy con cái, mong muốn sum vầy của người Việt vào ngày Tết cổ truyền. Bánh tét nếp xanh nhân đậu màu vàng gợi lên màu xanh của đồng quê và hạt lúa chín vàng, oằn bông, trĩu hạt… gợi lên niềm mơ ước về một cuộc sống đủ đầy "an cư lạc nghiệp" của một mùa Xuân an bình, đầm ấm, hạnh phúc sum vầy.
Phong tục ngày Tết Nam Bộ, cứ vào đêm giao thừa mỗi năm, cả gia đình thức khuya quây quần quanh nồi bánh, người lớn thì thi nhau gói bánh tét, trẻ con thì chơi đùa hay phụ ông bà, ba má chụm bếp lò, tạo nên không khí đầm ấm, sung túc của ngày Tết.