Danh mục
THEO DÕI TRÊN: Facebook Youtube Tiktok
tien-toi-dai-hoi-vii
Trong suốt 9 tháng của năm 2021, các ngành kinh tế đều chững lại và thụt lùi do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Riêng lĩnh vực nông nghiệp vẫn tăng trưởng. Sự bền vững ấy chứng minh vai trò chủ lực của ngành Nông nghiệp đối với nền kinh tế Việt Nam.
+
aa
-

Thay đổi tư duy làm nông nghiệp

Thời gian qua, các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) bắt đầu thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp, tập trung nâng cao chất lượng để đưa ra thị trường những “nông sản xanh”, sạch, an toàn sức khỏe, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.

Tỉnh Cà Mau hiện có gần 35.000ha nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn, tập trung tại 2 huyện Năm Căn và Ngọc Hiển, trong đó hơn 22.000ha được công nhận nuôi tôm sinh thái với gần 5.000 hộ nuôi.

Tôm sinh thái, lúa hữu cơ là 2 nhóm hàng nằm trong đề án cơ cấu lại nông nghiệp của tỉnh được mở rộng, phát triển. Trong đó, diện tích canh tác lúa - tôm hơn 40.000 ha, một nửa số đó ở huyện Thới Bình. Sau nhiều năm gây dựng, huyện được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận 10.000ha mô hình canh tác “lúa sạch Thới Bình”. Ðịa phương này đang xây dựng vùng lúa - tôm đặc sản an toàn, lúa - tôm chất lượng cao, lúa - tôm hữu cơ hơn 3.500ha ở các xã Trí Phải, Trí Lực, Thới Bình, Biển Bạch Ðông…

Trong các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ ngành hàng lúa mà tỉnh Cà Mau tạo dựng, có khoảng 8.500ha lúa cao sản an toàn, 2.500ha lúa thơm đặc sản (ST24, ST25, Ðài Thơm 8); 3.000ha lúa - tôm đặc sản (ST24, ST25); 700ha lúa hữu cơ đạt tiêu chuẩn quốc tế USDA của Mỹ, EU của châu Âu và JAS của Nhật, là 3 tiêu chuẩn khắt khe và cao nhất thế giới hiện nay. Khi đạt được 3 tiêu chuẩn trên, hạt gạo và nông sản của tỉnh có thể xuất khẩu qua bất cứ thị trường nào trên thế giới.

Nông nghiệp xanh. Ảnh Trọng Triết

Còn ở tỉnh Vĩnh Long xây dựng hàng chục mô hình an toàn thực phẩm, trong đó đạt chứng nhận VietGAP hơn 260ha. Hợp tác xã chôm chôm Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ có 66 thành viên sản xuất 42ha chôm chôm trái vụ theo hướng Global GAP; sản lượng đạt 840 tấn/năm, năng suất 20 tấn/ha, sản phẩm được cấp mã số…

Tại tỉnh Ðồng Tháp, từ năm 2016, Dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững (VnSAT Ðồng Tháp) triển khai tại 6 huyện, 23 xã, 41 hợp tác xã và một tổ hợp tác. Dự án bao phủ chuỗi sản xuất lúa gạo, từ tập huấn kĩ thuật “3 giảm, 3 tăng, “1 phải, 5 giảm”, xây dựng điểm trình diễn, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hàng hóa thiết bị cho nông dân, kết nối hợp tác xã với doanh nghiệp để hình thành những chuỗi liên kết hoàn chỉnh.

Hợp tác xã Mỹ Ðông 2, xã Mỹ Ðông, huyện Tháp Mười được dự án VnSAT hỗ trợ áp dụng công nghệ 4.0 và sản xuất lúa theo hướng VietGAP trên cánh đồng mẫu 170ha. Công nghệ giúp nông dân tiết kiệm nhiều chi phí về giống, thuốc bảo vệ thực vật, giảm lượng nước tưới, khí nhà kính, tạo ra sản phẩm an toàn, đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm. Từ dự án VnSAT, bà con được tập huấn kĩ thuật canh tác lúa theo hướng VietGAP, áp dụng quy trình “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm” nên giảm giống, giảm thuốc, giảm phân…; quan trọng là giảm giá thành, tăng lợi nhuận và tạo ra nông sản sạch.

Xây dựng nền “nông nghiệp xanh”

Bài toán hiện đại hóa và toàn cầu hóa sẽ vô cùng phiêu lưu, nếu mỗi quốc gia không có sự đầu tư thỏa đáng cho ngành Nông nghiệp. Bởi lẽ, ngành này được quy hoạch bài bản và tổ chức khéo léo sẽ giúp ổn định môi trường thiên nhiên, bảo đảm an ninh lương thực và tránh sự phụ thuộc lép vế của những nước nhỏ trong hợp tác quốc tế.

Khi hàng hóa được liên kết trong chuỗi giá trị, thì sản xuất nông nghiệp ít bị phụ thuộc nhất trước các rào cản kĩ thuật và công nghệ. Nói cách khác, với một nền nông nghiệp được vận hành thông suốt, thì một quốc gia hoàn toàn có thể thoát khỏi mọi sự dựa dẫm mệt mỏi trong bất kì cơn khủng hoảng nào.

Nền nông nghiệp làm “bệ đỡ” cho kinh tế Việt Nam cầm cự và sẵn sàng vượt qua Covid-19. Từ thực tế ấy, cần có sự chuẩn bị khác cho nông nghiệp Việt Nam trên hành trình xa hơn, dài hơn. Đánh giá công bằng và khách quan, thì Việt Nam có nền nông nghiệp giàu tiềm năng nhất trong khu vực. So sánh trực tiếp với Thái Lan thì tiềm năng nông nghiệp của ta ở các ngành hàng đều vượt trội, nhưng đang thua Thái Lan ở “trò chơi” thương hiệu. Sản phẩm nông nghiệp Việt Nam chưa biết cách làm thương hiệu, là một hạn chế phải được lưu ý cải thiện.

Trong đại dịch, Việt Nam “nương cậy” vào nông nghiệp, thì càng phải xác định nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn sau đại dịch. Khi cả thế giới bắt đầu sốt ruột huy động nhân lực và vật lực để kiến thiết ngành nông nghiệp, thì Việt Nam cơ bản đã có một nền nông nghiệp đáng trân trọng. Truyền thống canh tác và chăn nuôi được tích lũy đã cho Việt Nam hai thứ tài sản quý giá là kinh nghiệm sản xuất và con người cần cù, đủ để thích ứng linh hoạt với những tác động phức tạp của biến đổi khí hậu.

Trong những mặt hàng nông nghiệp Việt Nam, thì hạt gạo cần được ưu tiên. Vì hạt gạo không còn là lương thực của người phương Đông nữa. Người phương Tây dần dần quen thuộc với hạt gạo trên bữa ăn hàng ngày. Gạo Việt Nam không chỉ có sản lượng cao mà còn có chất lượng cao, được quốc tế thừa nhận. Do đó, từ điểm nhìn hôm nay, hoàn toàn có thể tin tưởng hạt gạo Việt Nam ngày mai, khi được bổ sung khái niệm thương hiệu sẽ mở đường cho kinh tế Việt Nam hội nhập tự tin.

Hằng năm, vùng ÐBSCL đóng góp cho cả nước khoảng 90% sản lượng gạo, 70% sản lượng trái cây và gần 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Các tỉnh trong vùng đã áp dụng khoa học kĩ thuật vào canh tác nông nghiệp, góp phần nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, các mặt hàng nông sản bảo đảm điều kiện xuất khẩu còn hạn chế bởi chưa có nhiều nông sản sạch theo xu hướng thị trường toàn cầu.

Theo chuyên gia nông nghiệp Giáo sư, Tiến sĩ Võ Tòng Xuân, nhiều mô hình sản xuất “nông nghiệp xanh” theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP tại vùng ÐBSCL đã mang lại hiệu quả khá tốt, như mô hình lúa - tôm ở các tỉnh ven biển; nuôi tôm, cua sinh thái ở Cà Mau; trồng rau thủy canh, dưa hấu trong nhà lưới ở Cần Thơ, Hậu Giang… giúp người dân, địa phương có bước chuyển đổi về sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh, an toàn. Tuy nhiên, diện tích, sản lượng nông sản sản xuất theo hướng xanh chiếm tỉ lệ thấp, việc tiêu thụ sản phẩm nhiều lúc chưa ổn định.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Châu Minh Khôi, Trường Đại học Cần Thơ cho biết, Nhà nước cần giúp nông dân ứng dụng các thành tựu, tiến bộ khoa học, kĩ thuật mới vào sản xuất. Ðồng thời, nông dân liên kết lại hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã để sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tạo thuận lợi, hiệu quả hơn trong chuyển đổi sản xuất “nông nghiệp xanh”. Các địa phương cần chủ động quy hoạch lại từng loại cây trồng, vật nuôi phù hợp điều kiện tự nhiên, thích ứng biến đổi khí hậu để chuyển đổi “sản xuất xanh” gắn với ứng dụng khoa học, kĩ thuật và liên kết lại theo từng chuỗi giá trị ngành hàng để sản xuất và tiêu thụ “nông sản xanh” bền vững.

“Chính phủ, các bộ, ngành cần sớm ban hành bộ tiêu chí quốc gia về “nông nghiệp xanh”, nông nghiệp hữu cơ gắn với quy hoạch vùng sản xuất phù hợp điều kiện tự nhiên, sinh thái, môi trường từng vùng, tiểu vùng với từng loại cây trồng, vật nuôi cụ thể làm cơ sở chuyển đổi sang sản xuất xanh”, Giáo sư, Tiến sĩ Võ Tòng Xuân đề xuất.

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan, để xây dựng được nền “nông nghiệp xanh”, góp phần tạo ra “tăng trưởng xanh” trong nông nghiệp, cần phải xây dựng một quy hoạch không dựa trên năng suất, sản lượng mà là dựa trên giá trị xanh, sạch gắn với liên kết thị trường. Trong đó, đặc biệt lưu ý đến kinh tế nông thôn là các hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ… để hình thành “hệ sinh thái kinh tế nông thôn”.

Trong phát triển nông nghiệp, cần chuyển từ phát triển theo từng địa giới hành chính sang phát triển dựa trên không gian liên địa phương, liên vùng có cùng ngành hàng. Bên cạnh đó, cần khởi tạo chuyển đổi số một cách phù hợp trong nông nghiệp, nông thôn, nông dân.

Trần Trọng Triết
Bài tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ
CÙNG CHỦ ĐỀ: Thực hiện Nghị quyết 84 của Chính Phủ
Tags: nông nghiệp xanh chứng nhận VietGAP

Tin liên quan

Tin tức bạn quan tâm

Khơi thông cho “tín dụng xanh” phát triển

Làm giàu từ mô hình nuôi hươu lấy nhung

Ở tuổi 72, nhưng ông Nguyễn Đình Kiên, ở thôn 5, xã Sam Mứn, tỉnh Điện Biên vẫn thoăn thoắt chuẩn bị thức ăn cho đàn hươu. Với ông, lao động không chỉ là niềm vui tuổi già mà còn là cách tiếp tục tạo dựng giá trị cho gia đình và cộng đồng.
Khơi thông cho “tín dụng xanh” phát triển

Hạt muối đổi đời

Đã thôi những trở trăn, thôi nỗi lo thất bát mùa vụ, giờ đây hạt muối Sa Huỳnh đã đổi đời lên hương theo cơn gió du lịch. Muối không còn mặn đắng như bao đời khốn khó mà đã ngọt dần theo thời gian.
Khơi thông cho “tín dụng xanh” phát triển

Nông dân cao tuổi người Dao làm giàu từ rừng trúc sào

Ở thôn Lũng Pán, xã Huy Giáp, tỉnh Cao Bằng, nhắc đến ông Đặng Quý Tấn (sinh năm 1960), người dân tộc Dao, Ủy viên Ban Chấp hành Hội NCT xã, ai cũng dành cho ông sự trân trọng. Không chỉ là người tiên phong đưa cây trúc sào trở thành cây trồng chủ lực của địa phương, ông còn là tấm gương sáng về ý chí vượt khó, tinh thần dám nghĩ, dám làm và luôn sẵn sàng sẻ chia với cộng đồng.
Khơi thông cho “tín dụng xanh” phát triển

Người cao tuổi tiên phong làm nông nghiệp hữu cơ

Không chấp nhận cách làm nông nghiệp manh mún, phụ thuộc vào may rủi, ông Từ Văn Hay, Phó Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ - Tổng hợp Tuấn Tú, hội viên NCT xã Phước Dinh, tỉnh Khánh Hòa đã mạnh dạn chuyển hướng sang sản xuất hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao. Từ quyết định táo bạo ấy, vùng đất khô hạn ngày nào đã hình thành vùng chuyên canh măng tây xanh, mang lại thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân, trong đó có nhiều NCT.
Khơi thông cho “tín dụng xanh” phát triển

Doanh nhân Huỳnh Văn Bé nâng tầm nông sản Việt

Ở tuổi mà nhiều người đã chọn cuộc sống an nhàn bên con cháu, ông Huỳnh Văn Bé, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Sản xuất Thực phẩm Nông sản Ngọc Yến, xã Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp vẫn giữ trọn ngọn lửa đam mê với sản xuất, kinh doanh.
Khơi thông cho “tín dụng xanh” phát triển

Người tiên phong đưa nho giống công nghệ cao vươn xa

Ở tuổi 67, ông Nguyễn Thường Lang, hội viên NCT khu phố 2, phường Đông Hải, tỉnh Khánh Hòa vẫn miệt mài với những vườn nho giống công nghệ cao. Không chỉ gây dựng thành công thương hiệu “Nho giống Sáu Lang” được khách hàng trong và ngoài nước tin tưởng, ông còn là tấm gương NCT tiêu biểu trong phát triển kinh tế bạc, tích cực đóng góp cho cộng đồng và các hoạt động an sinh xã hội.
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9