Sáng 11/8, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội làm việc tại Hội trường, thảo luận về dự án Luật Phát triển đô thị.
Đô thị tương lai phải thân thiện với người cao tuổi…
Trong phiên thảo luận sáng ngày 11/8, đa số các đại biểu Quốc hội tán thành với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị.
Phát biểu ý kiến về phát triển hệ thống y tế, an sinh xã hội tại Điều 27 của Luật Phát triển đô thị, đại biểu Lê Thị Hoài Chung – Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An đề nghị, dự thảo không chỉ tiếp cận y tế như một nhóm dịch vụ an sinh, mà cần xác định y tế là một cấu phần thiết yếu của hạ tầng đô thị và là điều kiện quan trọng để bảo đảm chất lượng sống của người dân.
![]() |
| ĐBQH Lê Thị Hoài Chung phát biểu ý kiến sáng ngày 11/8. |
Đại biểu nhấn mạnh, quy hoạch đô thị cần bảo đảm người dân được tiếp cận công bằng, thuận tiện, kịp thời và có chất lượng đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đồng thời tăng cường năng lực y tế dự phòng, cấp cứu ngoại viện, phòng chống dịch bệnh, ứng phó thảm họa và các tình huống y tế khẩn cấp.
Tại Điểm a, Khoản 2, Điều 10 về quy hoạch của Thành phố, đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu quy hoạch và phân bố mạng lưới cơ sở y tế phù hợp với quy mô, mật độ và sự phân bố dân cư, tốc độ đô thị hóa, đặc điểm địa bàn và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.
Đặc biệt, cần quy hoạch đồng bộ mạng lưới cấp cứu ngoại viện, các điểm cấp cứu, phương tiện vận chuyển cấp cứu và hệ thống điều phối cấp cứu thông minh, gắn với quy hoạch giao thông đô thị. Cần nghiên cứu xây dựng một đầu số cấp cứu ngắn, dễ nhớ, khi người dân gọi, hệ thống có thể xác định vị trí, lựa chọn điểm cấp cứu và phương tiện gần nhất, điều phối theo thời gian thực, tương tự nguyên lý của một hệ thống gọi xe công nghệ.
Đối với những nội dung liên quan trực tiếp đến mạng lưới y tế, đại biểu đề nghị cần bổ sung Bộ Y tế vào cơ chế tham gia, cho ý kiến chuyên môn trong quá trình lập và điều chỉnh quy hoạch, bảo đảm tính thống nhất giữa quy hoạch đô thị và quy hoạch ngành y tế.
Đề cập Điểm đ, Khoản 1, Điều 12 về nguyên tắc đầu tư, xây dựng, tái thiết đô thị, đại biểu cho rằng dự thảo đã đề cập yêu cầu hài hòa lợi ích của người dân. Tuy nhiên, cần bổ sung nguyên tắc phát triển đô thị thích ứng với già hóa dân số, bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và năng lực ứng phó với các tình huống y tế khẩn cấp, dịch bệnh và thảm họa.
“Đô thị tương lai phải thân thiện với người cao tuổi, người khuyết tật và các nhóm dễ bị tổn thương; bảo đảm giao thông thuận tiện, không gian công cộng an toàn, nhà ở phù hợp và khả năng tiếp cận cơ sở y tế, dịch vụ xã hội. Luật Phát triển đô thị khi được ban hành sẽ thực sự tạo nền tảng pháp lý cho một mô hình đô thị lấy con người làm trung tâm, lấy chất lượng sống làm mục tiêu và lấy khả năng chống chịu làm năng lực cốt lõi”, đại biểu Lê Thị Hoài Chung kỳ vọng.
Đề cập đến công tác an sinh xã hội của dự án luật, đại biểu Nguyễn Thanh Cầm, Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp cho rằng, phát triển đô thị không nên chỉ tập trung vào các cơ chế thúc đẩy kinh tế mà cần cân đối hài hòa với trách nhiệm cung ứng dịch vụ xã hội thiết yếu như y tế, giáo dục, văn hóa và nhà ở.
Từ thực tiễn nêu trên, đại biểu đưa ra 5 kiến nghị cụ thể:
Một là, đánh giá tác động đa chiều khi thí điểm. Đối với các cơ chế, chính sách thí điểm quy mô lớn tại Điều 8, cần bổ sung yêu cầu đánh giá tác động về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và đảm bảo bình đẳng giới trước khi HĐND thành phố quyết định đối với những trường hợp thí điểm có quy mô lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng.
Hai là, việc xã hội hóa hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính (Điều 9), đề nghị bổ sung thêm nguyên tắc, lấy sự hài lòng của người dân làm trung tâm. Đồng thời, cần tránh áp dụng hình thức xã hội hóa trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, không thực hiện xã hội hóa nếu việc này làm tăng khó khăn hoặc hạn chế cơ hội tiếp cận của các nhóm đối tượng được bảo trợ xã hội.
Ba là, quan tâm đặc biệt đến nhóm yếu thế, đại biểu đề nghị bổ sung cơ sở hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho trẻ em tự kỷ vào hệ thống y tế đô thị (Khoản 1 Điều 27). Đồng thời, cần ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho người dễ bị tổn thương, người dân tộc thiểu số, miền núi và các trường hợp cần hỗ trợ khẩn cấp.
Bốn là, bảo đảm sinh kế khi chuyển đổi đô thị. Quá trình chỉnh trang hoặc chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp phải đi kèm với đánh giá tác động xã hội. Đại biểu cho rằng, luật cần quy định rõ các giải pháp đào tạo nghề, tạo việc làm và đảm bảo thu nhập cho người dân bị ảnh hưởng, nhất là lao động nữ và người cao tuổi.
Năm là, lồng ghép giới trong quy hoạch và chính sách. Để đô thị thực sự văn minh và hạnh phúc, đại biểu kiến nghị đẩy mạnh lồng ghép giới trong quy hoạch, thiết kế đô thị và hoạch định chính sách. Theo đại biểu, việc này cũng cần được áp dụng vào các chiến lược giảm thiểu rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu nhằm đáp ứng nhu cầu riêng biệt của phụ nữ và trẻ em gái, phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.
“Những điều chỉnh này sẽ giúp các đô thị trở thành nơi mọi người dân, đặc biệt là nhóm dễ bị tổn thương, đều có cơ hội phát triển và được bảo vệ an toàn”, đại biểu Nguyễn Thanh Cầm nhấn mạnh.
Theo đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai), Luật Phát triển đô thị không những để phát triển các thành phố trong tương lai mà còn cho sự phát triển chung của cả nước. Ý nghĩa của đạo luật này không chỉ là luật hóa một số cơ chế, chính sách đặc thù đã được thực tiễn kiểm nghiệm mà quan trọng hơn, là hình thành một khuôn khổ thể chế mới cho quản trị và phát triển đô thị; chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ việc từng địa phương phải đi xin cơ chế đặc thù sang phân quyền mạnh, ổn định, minh bạch và có trách nhiệm.
Xác lập rõ đô thị đặc biệt là “đầu tàu” trong phát triển kinh tế biển
Cho ý kiến về nội dung phát triển kinh tế biển trong dự thảo Luật, đại biểu Tạ Đình Thi (Đoàn TP Hà Nội) đánh giá cao dự thảo Luật đã có các điều khoản cụ thể thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 20-NQ/TW của Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và triển khai Nghị quyết số 139/2024/QH15 của Quốc hội về Quy hoạch không gian biển quốc gia.
![]() |
| Toàn cảnh phiên thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị, sáng ngày 11/8. |
Để đạt mục tiêu tăng trưởng “hai con số” và biến khát vọng biển thành hiện thực, các chính sách về kinh tế biển trong Luật cần thực sự đột phá, vượt trội và đủ mạnh. Đại biểu Tạ Đình Thi đưa ra các nhóm kiến nghị:
Thứ nhất, cần xác lập rõ đô thị đặc biệt là “đầu tàu” trong phát triển kinh tế biển. Đề nghị rà soát, bổ sung rõ hơn tại Mục 4, Chương III về phát triển kinh tế biển (các Điều 52, 53), cần giao thẩm quyền, cơ chế đặc thù để các đô thị đặc biệt, như thành phố Hồ Chí Minh, tiên phong trong xây dựng các mô hình mới, như “đô thị biển thông minh” hay “trung tâm kinh tế biển mạnh” như tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW, làm hạt nhân cho tăng trưởng vùng và quốc gia.
Thứ hai, các ưu đãi về tài chính và đầu tư phải thực sự vượt trội để thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực biển mới. Điều 47 dự thảo Luật đã có các quy định về ưu đãi thuế, thời hạn dự án. Để đạt các chỉ tiêu đầy tham vọng như công suất điện gió ngoài khơi 6-10 GW vào năm 2030 theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đại biểu đề nghị nghiên cứu, bổ sung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), nhất là đối với công nghệ năng lượng tái tạo, công nghệ khai thác biển sâu và mô hình kinh tế biển mới (như kinh tế hydro xanh, công nghiệp đóng tàu hiện đại, logistics biển).
Điều này sẽ giúp tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên tiến, hiện thực hóa mục tiêu phát triển ngành, lĩnh vực biển hiện đại, xanh, thông minh.
Thứ ba, cần có cơ chế phát triển đồng bộ hạ tầng biển và không gian phát triển mới. Dự thảo Luật tại các Điều 52, 53, 56 đã mở ra hướng mới cho phát triển các hải đảo, kinh doanh bất động sản nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, để phát triển bền vững theo đúng triết lý của Liên hợp quốc về quản trị đại dương toàn diện, kết hợp hài hòa giữa chủ quyền quốc gia, phát triển kinh tế biển xanh và bảo vệ sinh thái nguyên vẹn cho các thế hệ tương lai, cần quy định cụ thể hơn về việc bảo đảm kết nối hạ tầng chiến lược giữa đô thị, cảng biển... gắn với tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học và làm chủ công nghệ biển.


