Từ phong trào Duy Tân, những năm tháng tù đày ở Côn Đảo, nghị trường và báo chí đến khi tham gia Chính phủ cách mạng, được giao trọng trách Quyền Chủ tịch nước, cụ luôn đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi Nhân dân lên trên hết.
Từ một đại khoa đến người dấn thân vì dân, vì nước
Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh ngày 1/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tỉnh Quảng Nam. Từ nhỏ nổi tiếng thông minh, hiếu học, cụ đỗ Giải nguyên năm 1900, đỗ Tiến sĩ năm 1904. Nhưng trước con đường công danh, cụ đã lựa chọn một hướng đi khác: Dấn thân vào hoạt động yêu nước, tìm con đường canh tân để cứu dân, cứu nước.
![]() |
| Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch ra mắt quốc dân (3-11-1946), Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng (người bên phải, hàng đầu tiên) |
Cùng các chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp, cụ tham gia và trở thành một trong những nhân vật tiêu biểu của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ. Tư tưởng của cụ tập trung vào khai dân trí, chấn dân khí, phát triển dân sinh; đề cao thực học, chữ Quốc ngữ, mở mang giáo dục, phát triển thương nghiệp, sản xuất và cải thiện đời sống Nhân dân.
Đó không chỉ là tư tưởng canh tân về giáo dục mà còn là quan niệm sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh đất nước: Muốn đất nước mạnh phải nâng cao dân trí; muốn dân có cuộc sống tốt hơn phải chăm lo dân sinh; muốn dân tộc có sức mạnh phải khơi dậy ý chí và khí phách của mỗi người.
Năm 1908, phong trào Duy Tân và các hoạt động vận động dân quyền ở Trung Kỳ bị đàn áp. Cụ bị bắt, kết án và đày ra Côn Đảo. Mười ba năm lưu đày (1908-1921) là thử thách khắc nghiệt đối với một con người, nhưng không thể khuất phục ý chí của người chí sĩ.
Trong lao tù, cụ vẫn học tập, nghiên cứu, làm thơ, trao đổi về thời cuộc và giữ vững tinh thần của người yêu nước. Những năm tháng Côn Đảo càng làm nổi bật bản lĩnh, khí tiết và nghị lực của một con người đã lựa chọn con đường phụng sự dân tộc.
![]() |
| Cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh tư liệu |
“Tiếng Dân” - tiếng nói của một nhà báo có trách nhiệm
Sau khi được trả tự do năm 1921, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục hoạt động yêu nước bằng những hình thức phù hợp với hoàn cảnh. Năm 1926, cụ được bầu làm dân biểu Trung Kỳ và giữ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trên nghị trường, cụ thẳng thắn đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng của Nhân dân, phản đối những chính sách bất công và yêu cầu cải cách.
Nhưng dấu ấn đặc biệt của cụ Huỳnh Thúc Kháng còn gắn với báo chí. Ngày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên tại Huế, do cụ làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Trong 16 năm hoạt động, đến khi bị đình bản năm 1943, báo đã xuất bản 1.766 số.
Trong điều kiện kiểm duyệt khắt khe của chính quyền thực dân, Tiếng Dân kiên trì phản ánh những vấn đề thiết thân của xã hội, bảo vệ quyền lợi của người dân, lên tiếng trước những bất công, thuế khóa và những vấn đề dân sinh, dân chủ. Báo được xem là một diễn đàn có ảnh hưởng quan trọng đối với đời sống xã hội Trung Kỳ.
Ở cụ Huỳnh Thúc Kháng, nghề báo không đơn thuần là hoạt động nghề nghiệp. Đó là trách nhiệm trước Nhân dân và đất nước. Cụ yêu cầu thông tin phải được điều tra, xác minh; điều gì sai thì sửa, nhưng những vấn đề đã được kiểm chứng thì phải kiên quyết bảo vệ sự thật. Tư tưởng ấy làm nên cốt cách của một người làm báo luôn coi trọng sự trung thực, bản lĩnh và trách nhiệm xã hội.
Tên tuổi cụ Huỳnh Thúc Kháng vì thế không chỉ thuộc về lịch sử báo chí Việt Nam mà còn gợi nhắc những chuẩn mực bền vững đối với người cầm bút: Tôn trọng sự thật, đứng về phía quyền lợi chính đáng của Nhân dân và giữ vững bản lĩnh trước sức ép.
Không phải ngẫu nhiên, sau này lớp đào tạo báo chí kháng chiến đầu tiên được mang tên Huỳnh Thúc Kháng. Lớp viết báo Huỳnh Thúc Kháng được tổ chức năm 1949 tại Việt Bắc, với mục đích tưởng nhớ và noi gương một nhà báo lâu năm, đồng thời học tập đức tính cần mẫn, tài tổ chức, chí khảng khái, bất khuất của cụ.
![]() |
Niềm tin lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi đất nước vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng đứng trước muôn vàn khó khăn. Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng tài năng, đạo đức và uy tín của cụ Huỳnh Thúc Kháng, mời cụ tham gia Chính phủ, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Đây là một biểu hiện sinh động của chính sách đại đoàn kết, trọng dụng nhân tài, tập hợp những người yêu nước cùng tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng trước Quốc hội là người “đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết”.
Tháng 5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, cụ Huỳnh Thúc Kháng được giao trọng trách Quyền Chủ tịch nước. Trước lúc lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cụ: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Câu nói ấy trở thành một dấu ấn đặc biệt trong mối quan hệ giữa hai nhà lãnh đạo, đồng thời thể hiện niềm tin của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với một bậc trí thức yêu nước có bản lĩnh, uy tín và trách nhiệm.
Trong thời gian được giao điều hành công việc đất nước, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng Chính phủ giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về đối nội, đối ngoại, góp phần giữ vững chính quyền cách mạng còn non trẻ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong lời tuyên bố với quốc dân sau khi từ Pháp trở về, đánh giá cao sự lãnh đạo của cụ Huỳnh trong thời gian Người vắng mặt.
Điều đáng quý ở cụ là dù khác biệt về hoàn cảnh xuất thân, con đường hoạt động và chính kiến, khi Tổ quốc đứng trước thử thách, Cụ luôn đặt lợi ích chung lên trên hết. Chính tinh thần ấy góp phần củng cố khối đại đoàn kết, tập hợp nhân sĩ, trí thức và các tầng lớp yêu nước cùng hướng tới mục tiêu bảo vệ nền độc lập.
Tuổi cao vẫn nhận việc nước, trọn đời giữ khí tiết
Cuối năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Dù tuổi cao, sức yếu, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn nhận nhiệm vụ của Chính phủ đi kinh lý miền Trung, tuyên truyền đường lối kháng chiến, kiến quốc, động viên đồng bào và chiến sĩ. Cụ lên đường khi sức khỏe đã giảm sút nhưng vẫn mang theo trách nhiệm của một người cán bộ lão thành trước vận mệnh đất nước.
Đầu năm 1947, trong chuyến đi, cụ lâm bệnh nặng và qua đời tại Quảng Ngãi ngày 21/4/1947, hưởng thọ 70 tuổi. Theo tâm nguyện, cụ được an táng trên núi Thiên Ấn. Ngày 29/4/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư báo tin cụ qua đời và tổ chức quốc tang, bày tỏ lòng thương tiếc đối với một bậc đại chí sĩ đã suốt đời phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.
Ngày 27/12/2012, ghi nhận những công lao, cống hiến to lớn của cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, Chủ tịch nước truy tặng Cụ Huân chương Sao vàng - phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước.
Đối với người cao tuổi hôm nay, tấm gương ấy càng có ý nghĩa. Khi còn sức khỏe, trí tuệ, uy tín và kinh nghiệm, người cao tuổi vẫn có thể tiếp tục đóng góp cho gia đình, cộng đồng và đất nước. Giá trị của tuổi cao không chỉ nằm ở những năm tháng đã sống, mà còn ở những gì có thể tiếp tục trao truyền cho thế hệ sau.
Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng là dịp để tưởng nhớ một cuộc đời lớn, đồng thời nhìn nhận sâu sắc hơn những giá trị mà cụ để lại: Lòng yêu nước, khí tiết, liêm chính, tinh thần tự học, trách nhiệm với Nhân dân, bản lĩnh trước thử thách và ý thức đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Những giá trị ấy không thuộc riêng về quá khứ. Đó là di sản tinh thần cần được tiếp nối bằng những việc làm cụ thể trong hôm nay; để mỗi thế hệ, trong đó có người cao tuổi, tiếp tục phát huy trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và trách nhiệm, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.



