Sáng ngày 5/11, Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI họp phiên toàn thể tại Hội trường, nghe Tờ trình về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026-2035; Thảo luận về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.
Chủ động phòng ngừa, kéo giảm tội phạm ma túy
Trình bày Tờ trình về Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026-2035, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cho biết, về cơ sở chính trị, pháp lý, việc xây dựng Chương trình dựa trên căn cứ Kết luận số 56 ngày 24/6/2026 của Bộ Chính trị về khẩn trương xây dựng triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2026 - 2035 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về phòng, chống tội phạm ma túy, đầu tư công, ngân sách nhà nước.
![]() |
| Toàn cảnh phiên họp tại hội trường, sáng ngày 5/11. |
Về cơ sở thực tiễn, việc xây dựng Chương trình xuất phát từ tình hình tội phạm và ma túy trong nước và thế giới diễn biến hết sức phức tạp, xuất hiện nhiều phương thức thủ đoạn mới, tinh vi, chưa có tiền lệ và nhiều nguy cơ thách thức phi truyền thống, tác động đến công tác phòng chống tội phạm và ma túy.
Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026 - 2035 được chia thành 2 giai đoạn với tổng vốn đầu tư như sau:
Giai đoạn 1 (2026 - 2030): Tổng vốn là 45.301 tỷ đồng, trong đó 22.450 tỷ đồng đã được phê duyệt tại Nghị quyết 163 và đề nghị bổ sung 22.851 tỷ đồng cho công tác phòng, chống tội phạm.
Giai đoạn 2 (2031 - 2035): Tổng vốn là 18.151 tỷ đồng. Kết thúc giai đoạn 1, căn cứ kết quả thực hiện, Chính phủ báo cáo Quốc hội nguồn lực kinh phí để thực hiện giai đoạn 2 theo quy định.
Theo Bộ trưởng Lương Tam Quang, mục tiêu của Chương trình là phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong phòng chống ma túy và tội phạm; lấy người dân làm trung tâm, địa bàn cấp xã là nền tảng, ứng dụng khoa học công nghệ, đầu tư trang thiết bị, thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả trong phòng chống ma túy và tội phạm; lấy phòng ngừa là chính, chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở nhằm kéo giảm bền vững tội phạm, giảm cung, giảm cầu, giảm tác hại của ma túy.
Có sáu giải pháp thực hiện Chương trình gồm: xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, tập trung nguồn lực và có cơ chế huy động, bố trí phân bổ nguồn lực, tổ chức hiệu quả bộ máy, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, tăng cường công tác truyền thông, tuyên truyền công tác phòng chống tội phạm, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ, mở rộng hợp tác quốc tế.
Chương trình đề ra mục tiêu đến năm 2030 hàng năm giảm số người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy; đạt ít nhất 50% số xã, phường, đặc khu trên toàn quốc không có ma túy. Phấn đấu 100% các điểm, tụ điểm phức tạp về ma túy, điểm nguy cơ, đối tượng bán lẻ về ma túy và 100% diện tích trồng trái phép cây có chứa chất ma túy được phát hiện và triệt phá; tỷ lệ thụ lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đạt 100%, trong đó tỷ lệ giải quyết phấn đấu đạt trên 88%; tỷ lệ điều tra, khám phá các loại tội phạm đạt trên 75%...
Đến năm 2035, phấn đấu 100% cơ quan báo chí chủ lực có chuyên trang, chuyên mục về phòng, chống tội phạm; tăng cường các biện pháp phòng ngừa để kéo giảm bền vững tội phạm, trong đó phấn đấu hằng năm giảm trên 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội; 100% dữ liệu về các đối tượng tội phạm được số hóa, chuẩn hóa, làm sạch và đối sánh...
Ứng phó nhanh với các phương thức tấn công mới
Trong buổi sáng 5/11, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Đa số đại biểu tán thành sự cần thiết ban hành Luật nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh năm 2007 sau gần 20 năm thi hành; đáp ứng các yêu cầu bảo vệ công trình trọng yếu, quan trọng trước những nguy cơ, thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống hiện nay. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, kịp thời để bảo vệ các công trình quan trọng, nhất là hạ tầng số, hệ thống dữ liệu.
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, cần phải chủ động ứng phó nhanh, kịp thời trước các hình thức tấn công mới. |
Góp ý về quy định biện pháp bảo vệ công trình trọng điểm về an ninh quốc gia. Đại biểu Vũ Minh Đạo (Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu), đề nghị quy định rõ thẩm quyền và giới hạn của các biện pháp bảo vệ có tác động đến quyền của người dân.
Theo đại biểu, tại khoản 5 Điều 10 và khoản 2 Điều 28 đều cho phép áp dụng biện pháp bảo vệ chưa được pháp luật quy định, nhưng thẩm quyền và cơ chế giám sát khác nhau. Điểm c khoản 1 Điều 32 lại dùng cụm từ “khi cần thiết” khi đề cập việc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp. Do đó, cần chỉnh lý đồng thời ba quy định này theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp.
Nếu giữ cơ chế xử lý trường hợp đặc biệt cấp thiết, Luật cần xác định thế nào là nguy cơ trực tiếp, hiện hữu, biện pháp nào được áp dụng, trong phạm vi và thời hạn nào. Quyết định phải nêu rõ lý do, có thời hạn báo cáo cụ thể và phải chấm dứt ngay khi căn cứ áp dụng không còn. Tại khoản 2 Điều 28 và điểm c khoản 1 Điều 32, đề nghị dẫn chiếu các biện pháp đã được luật quy định, gắn với đúng thẩm quyền và điều kiện áp dụng.
Tại Điều 20, đại biểu Vũ Minh Đạo đề nghị quy định ngay trong Luật các trường hợp hạn chế đi lại, cư trú, ghi âm, ghi hình và các ngoại lệ cần thiết cho cấp cứu, cứu nạn, phòng cháy, chữa cháy. Đại biểu nhận thấy, việc giám sát bằng phương tiện kỹ thuật cần có giới hạn về phạm vi thu thập, người được truy cập và thời hạn lưu giữ dữ liệu.
Cho ý kiến vào khoản 5 Điều 10 và khoản 2 Điều 28 giao Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ chưa được pháp luật quy định trong trường hợp đặc biệt cấp thiết. Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn ĐBQH TP Hải Phòng) đồng thuận với yêu cầu ứng phó nhanh với các phương thức tấn công mới. Thẩm quyền áp dụng biện pháp cấp bách của Thủ tướng cũng đã được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ.
“Việc tiếp tục làm rõ biện pháp tổ chức, kỹ thuật để ứng phó nguy cơ không đồng nghĩa với việc đặt ra một hạn chế mới đối với quyền của người dân. Do đó, cần bổ sung tại hai khoản này yêu cầu quyết định áp dụng phải nêu nguy cơ cụ thể, sự cần thiết của biện pháp, đối tượng, phạm vi và thời gian thực hiện; biện pháp phải được đánh giá lại và chấm dứt khi căn cứ áp dụng không còn”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị.
Cho ý kiến về phối hợp bảo vệ công trình ở khu vực biên giới, biển, đảo và công trình lưỡng dụng quy định tại Điều 35 của dự thảo, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà (đoàn ĐBQH TP Quảng Ninh) nhận thấy, quy định phối hợp trong giai đoạn đầu tư, vận hành và ứng phó tấn công mạng, tàu bay không người lái, chưa có quy định đối với công trình ở khu vực biên giới, biển, đảo và công trình lưỡng dụng như cảng biển, sân bay, công trình viễn thông dùng chung, nơi có nhiều lực lượng cùng hoạt động: Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, cơ quan quân sự địa phương và chính quyền cơ sở.
Việc xác định lực lượng chủ trì, nghĩa vụ thông báo khi có đe dọa, sự cố và yêu cầu diễn tập chung là vấn đề khung, cần có căn cứ trong Luật để tránh mỗi địa bàn một cách làm, nhất là khi xảy ra tình huống khẩn cấp.
Đại biểu Hà đề nghị, bổ sung một khoản vào Điều 35: “Đối với công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia ở khu vực biên giới, biển, đảo và công trình lưỡng dụng, lực lượng bảo vệ của Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, cơ quan quân sự địa phương và Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng phương án phối hợp bảo vệ, trao đổi thông tin, xử lý tình huống và tổ chức diễn tập”.
Bên cạnh đó, hoàn thiện dự án Luật cần quán triệt ba nguyên tắc: “bảo vệ an ninh quốc gia phải chủ động, chặt chẽ và từ sớm, từ xa; phân cấp phải đi đôi với trách nhiệm, thủ tục phải rõ ràng, có thời hạn; phối hợp phải xác định được đầu mối và cơ chế xử lý cụ thể”, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà nhấn mạnh.


