Nghĩ về truyền thống “Tôn sư trọng đạo” xưa và nay

“Tôn sư trọng đạo” là truyền thống đạo lí mang đậm giá trị nhân văn của dân tộc. Truyền thống này đã được ông cha ta tạo dựng, bồi đắp từ ngàn xưa cho đến nay. Trải qua thời gian, truyền thống ấy vẫn luôn tỏa sáng. Trong xã hội xưa và nay, “Tôn sư trọng đạo” có gì khác nhau?

Trọng người thầy đi liền với coi trọng sự học

Trong xã hội xưa, thầy giáo được coi là biểu tượng thiêng liêng cho sự học, là “khuôn vàng thước ngọc” của đạo đức, nhân cách để học trò học noi theo thầy mà trở thành người có đức, có nhân, có tài để giúp nước, giúp dân. Trong ba vị trí đặc biệt quan trọng của xã hội xưa “Quân - Sư - Phụ” thì người thầy chỉ đứng sau vua, người được xã hội, Nhân dân đặc biệt coi trọng và tôn vinh, là người mà Nhân dân gửi gắm niềm tin để giúp con em họ thành tài.

Ngay từ thời Hùng Vương, các vua Hùng đã chú trọng đến việc dạy chữ. Theo cuốn “Ngọc phả đình thôn Hương Lan” (xã Trưng Vương, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), vào thời Hùng Vương thứ 18, niên hiệu Hùng Duệ Vương, từ vua đến dân rất quan tâm đến việc học hành, tu thân và lập thân. Vua Hùng Duệ Vương đã mời hai vợ chồng thầy cô Vũ Thê Lang và Nguyễn Thị Thục (quê Bắc Ninh) vào cung dạy học cho Công chúa Tiên Dung và Công chúa Ngọc Hoa.

Khi thầy cô tạ thế, vua Hùng cùng người dân thôn Hương Lan vô cùng tiếc thương tiếc thầy cô, nên đã an táng ngay tại địa điểm thầy cô mở lớp dạy học. Nhà vua cũng cho phép thôn Hương Lan lập miếu để thờ cúng, hương hỏa cho thầy cô.

Thầy và trò Trường THPT Hạ Hòa (Phú Thọ) trong lễ khai giảng năm học mới.
Thầy và trò Trường THPT Hạ Hòa (Phú Thọ) trong lễ khai giảng năm học mới.

Ngày xưa, không phải gia đình nào cũng có điều kiện để cho con em đi học và cũng không có sẵn trường lớp như bây giờ. Vì thế, gia đình nào có điều kiện thường mời thầy đến nhà để thầy dạy con mình, giúp con em đọc được chữ, học vỡ nghĩa sách thánh hiền để làm cơ sở học cao hơn rồi thi thố, đỗ đạt mong được ra làm quan giúp dân, giúp nước. Cũng có người thầy từ bỏ chốn quan trường về quê mở lớp dạy học cho con nhà nghèo và không ít học trò nghèo đã nghe lời thầy, hiếu học mà đỗ đạt thành danh.

Trong xã hội xưa, cái nghĩa “Tôn sư trọng đạo” được gắn với tính mô phạm, khuôn phép, nhân cách, đạo đức. Vì thế, thầy phải ra thầy, trò phải ra trò. Muốn được học trò tôn kính, thầy phải giữ đúng chữ “đạo thầy”, thầy phải là biểu tượng của nhân cách cao đẹp, đạo đức chuẩn mực và tài trí hơn người. Còn nếu không có được những điều trên, thầy sẽ bị xã hội khinh rẻ, bị học trò coi thường. Về phía học trò, cũng phải giữ đúng “đạo học trò”, biết nghe lời thầy, biết chăm chỉ học tập và biết ứng xử cho phải đạo. Nếu phạm lỗi phải biết kính cẩn xin lỗi và sửa chữa lỗi lầm.

Chính vì vậy, trò vi phạm, nhất là phạm lỗi đạo đức, thầy trách phạt, thậm chí dùng roi đánh vào tay, vào lưng, thậm chí từ chối sự giáo dục để học trò nhận ra lỗi lầm của mình, nhưng trò và gia đình không hề kêu ca, không trách mắng thầy, vì họ đều nhận thức được rằng, có như vậy, con em họ mới nên người, mới cố gắng học hành. Khi gặp thầy, trò phải chào hỏi một cách cung kính, theo đúng lễ nghĩa.

Không gì thay được nhân cách người thầy

Trong xã hội ngày nay, người thầy vẫn có một vị trí đặc biệt quan trọng. Mặc dù khoa học kĩ thuật phát triển, nhiều yếu tố hiện đại, tiện ích có thể tham gia vào quá trình giáo dục con người, nhưng có lẽ không gì có thể thay thế được vị trí của người thầy. Bởi lẽ, dù xã hội có phát triển như thế nào đi nữa, người thầy vẫn luôn là biểu tượng cho nhân cách, chuẩn mực đạo đức và là người truyền vào tâm hồn học trò những điều tốt đẹp, gieo mầm thiện để nhân lên những điều thiện trong tâm căn mỗi học trò. Dù các phương tiện trong quá trình giáo dục có hiện đại, tối tân đến đâu cũng chỉ là phương tiện mang tính hỗ trợ cho bài giảng của thầy còn vai trò quan trọng vẫn là người thầy trên bục giảng, là phấn trắng, bảng đen. Thầy là người truyền lửa ham học cho học trò, khơi lên trong các em những ước mơ, hoài bão để thổi bùng lên những khát vọng cao đẹp trong tương lai.

Vì thế, truyền thống “Tôn sư trọng đạo” vẫn còn nguyên giá trị. Tuy nhiên, cái nghĩa “Tôn sư trọng đạo” ngày nay có phần thay đổi so với xưa kia. Ở xã hội ngày nay, khoảng cách giữa thầy và trò không cách xa như trước. Mối quan hệ giữa thầy và trò không còn bị chi phối bởi những giáo lí nghiêm ngặt như trong xã hội xưa mà có phần được giảm nhẹ, giản hóa những quy định về lễ nghĩa. Vì thế, học trò ngày nay thể hiện sự kính trọng thầy bằng nhiều cách khác nhau chứ không bó hẹp như xưa.

Người thầy trong xã hội ngày nay vẫn phải là chuẩn mực của đạo đức, nhân cách và trí tuệ. Đặc biệt, khi xã hội phát triển, khoa học công nghệ đạt được những thành tựu to lớn, khi thế giới bước vào thời đại công nghệ 4.0, người thầy phải không ngừng học tập, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ để bắt kịp với thời đại, đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Khi mặt trái của xã hội chi phối

Truyền thống “Tôn sư trọng đạo” ngày nay đã và đang bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố tiêu cực. Những yếu tố này thuộc về nhiều phía, cả phía người thầy, phía xã hội, phía học trò. Về phía người thầy, có không ít thầy cô năng lực chuyên môn nghiệp vụ yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo dục và đào tạo. Có không ít thầy cô vi phạm đạo đức nhà giáo, hành hung, bạo hành học trò, ép buộc học trò phải học thêm, tiêu cực trong thi cử... Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến đội ngũ các thầy cô giáo, một biểu tượng vốn thiêng liêng trong xã hội.

Về phía học sinh, có những em chưa ngoan đã có những hành động trái với đạo lí như cãi lại, chửi đánh, hành hung thầy cô khi mắc lỗi và bị xử lí. Những hành động này làm cho giá trị đạo đức xuống cấp nghiêm trọng, mối quan hệ thầy, trò bị hoen ố và giá trị của “Tôn sư trọng đạo” tuyệt nhiên không còn giữ được.

Còn về phía xã hội, khi mà cả xã hội tham gia vào quá trình giáo dục thì đã bộc lộ không ít những mặt trái, ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ thầy, trò. Cụ thể như, khi người dân bàn luận về một vấn đề nào đó trong giáo dục, đôi khi bàn luận một cách nóng vội, dẫn đến tranh luận một cách nảy lửa, thậm chí còn “ném đá” thầy cô không thương tiếc. Điều đó, đôi khi vô tình sẽ hạ thấp người thầy, hạ thấp giáo dục. Bên cạnh đó có không ít phụ huynh lợi dụng, mua chuộc thầy cô để che giấu những khuyết điểm, hay để con em mình có thành tích ảo...

Có thể nói, “Tôn sư trọng đạo” dù ở ngày xưa hay hôm nay và mãi mãi mai sau vẫn luôn là một nét đẹp không gì có thể thay thế được của dân tộc Việt Nam. Dù ở đâu, thời nào, người thầy vẫn giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Như Chu Văn An, người thầy tài cao đức trọng, biểu tượng thiêng liêng về hình ảnh người thầy của dân tộc Việt Nam đã nói: “Ta chưa từng thấy nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên được”.

Nguyễn Thế Lượng

Tin liên quan

Cùng chuyên mục

“Tấm lòng vàng” của nữ doanh nhân

“Tấm lòng vàng” của nữ doanh nhân

Gần 30 năm qua, bà Trần Thị Hiền, sinh năm 1957, quê ở phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội, Giám đốc Công ty CP Khoa học và Công nghệ Hoàng Quốc Việt, nhiệt huyết tự nguyện hoạt động xã hội, từ thiện bằng trái tim nhân hậu “thương người như thể thương thân”…
Lương y như từ mẫu - một danh hiệu cao quý

Lương y như từ mẫu - một danh hiệu cao quý

Những thầy thuốc nổi tiếng của Việt Nam như: Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông… cũng chưa đọc lời thề của Hypocrát, một nhà y học danh tiếng người Hy Lạp cách đây đã hơn 2.400 năm. Lời thề nổi tiếng đó và những bác sĩ tốt nghiệp ra trường đều phải tuyên thệ như những câu kinh nhật tụng:
Mong một ngày không xa...

Mong một ngày không xa...

Dịch bệnh COVID-19 chưa yên đến thiên tai dồn dập. Cuối tháng 1/2021, dịch bệnh tái bùng phát. Nhiều hoạt động du lịch của TP Hội An, tỉnh Quảng Nam lại bị gián đoạn, đình trệ khi trước đó chính quyền và doanh nghiệp cùng nỗ lực tìm cách phục hồi…
Tỉnh Đồng Tháp: Cần có một khu tưởng niệm xứng tầm với chiến công của Chi đội Hải ngoại IV

Tỉnh Đồng Tháp: Cần có một khu tưởng niệm xứng tầm với chiến công của Chi đội Hải ngoại IV

Theo nhiều tư liệu lịch sử, Chi đội Trần Phú được thành lập ngày 26/12/1946, tại Thái Lan, với 426 cán bộ, chiến sĩ, do ông Nguyễn Chánh chỉ huy.
Ban liên lạc “hậu duệ” Tây Tiến

Ban liên lạc “hậu duệ” Tây Tiến

Cuộc họp mặt đầu tiên của bạn chiến đấu Tây Tiến là vào dịp kỉ niệm 40 năm Ngày Thành lập Trung đoàn 52 Tây Tiến (27/2/1947-27/2/1987), do ông Hùng Thanh, Chính trị viên đầu tiên của Trung đoàn chủ trì.

Tin khác

Phải luôn nêu cao đạo đức người đảng viên

Phải luôn nêu cao đạo đức người đảng viên
Trải qua hơn 9 thập kỉ (1930-2021), Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn giữ vai trò lãnh đạo cách mạng và đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, bởi vì Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi.

Tìm người tình Mai Sơn Phủ của Hồ Xuân Hương

Tìm người tình Mai Sơn Phủ của Hồ Xuân Hương
Trong tập thơ tình Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương có nhiều bài thơ nghiêng về tình cảm với Mai Sơn Phủ thi hữu của Tao Đàn- Cổ Nguyệt Đường (1811-1814, chàng có quê ở xứ Tam Kỳ, đất Quảng.

Huy động sức mạnh nội lực, kết hợp với ngoại lực để phát triển đất nước

Huy động sức mạnh nội lực, kết hợp với ngoại lực để phát triển đất nước
Đất nước 24 năm sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930), dân tộc ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, đánh sập chủ nghĩa thực dân cũ, tạo ra cao trào các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vùng lên tự giải phóng mình.

Đi tìm dấu tích Cổ Nguyệt Đường quán hội Tao Đàn của nữ sĩ Hồ Xuân Hương

Đi tìm dấu tích Cổ Nguyệt Đường quán hội Tao Đàn của nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Tao Đàn của nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở Cổ Nguyệt Đường từ năm 1811-1814, có tới 28 thi hữu cùng bàn luận về thơ phú văn chương. Trong số thi hữu ấy có một người tên là Mai Sơn Phủ, duyên thơ nối họ với duyên tình. Vậy người có biệt danh Mai Sơn Phủ đến Cổ Nguyệt Đường là ai, quê ở đâu? Chúng tôi đã đi tìm dấu tích Cổ Nguyệt Đường để tìm bóng dáng Mai Sơn Phủ.

Binh pháp dân gian ở Liễu Đôi

Binh pháp dân gian ở Liễu Đôi
Liễu Đôi thuộc xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam có địa thế hiểm trở, nằm trong vòng cung dãy núi; phía Tây cách sông Đáy 6 cây số. Lưng Liễu Đôi tựa vào núi, trước mặt là cánh đồng rộng; có vị trí phòng thủ và phản công giặc rất lợi hại. Một vị tướng đời Trần đã chọn Liễu Đôi làm nơi thao binh, luyện tướng.
Xem thêm
Phiên bản di động