Sức khỏe não bộ

Kì 17: Bệnh Parkinson và những điều cần biết

BS Đỗ Nam Khánh & BS YHCT Nguyễn Mạnh Linh
09:44, 19/03/2020

Ở phần trước chúng tôi đã giới thiệu tới quý vị nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh Parkinson. Phần này chúng tôi xin trình bày triệu chứng, chẩn đoán bệnh Parkinson…

Triệu chứng bệnh Parkinson

Trong giai đoạn đầu của bệnh, các triệu chứng lâm sàng thường kín đáo, người bệnh có thể thấy các biểu hiện sau:

Người bệnh cảm thấy mệt mỏi, cảm giác cứng lưng, cứng cổ vai, cứng khớp háng.

Cột sống và các chi có xu hướng gấp, kém mềm mại và các động tác bị chậm lại.

Khi bước đi, cánh tay bệnh nhân ít hoặc không đung đưa theo nhịp bước.

Bước đi dần dần ngắn lại.

Giảm tần số chớp mắt.

Nếu gõ vào gốc mũi, xuất hiện hiện tượng rung giật mi mắt (dấu hiệu Myerson) do bệnh nhân mất khả năng ức chế nháy mắt.

Khi bệnh biểu hiện rõ, bệnh nhân sẽ có các triệu chứng điển hình sau:

Run khi nghỉ: Bệnh nhân xuất hiện tình trạng run khi các cơ ở trạng thái nghỉ, hết run khi vận động, khi ngủ. Triệu chứng run tăng lên khi xúc động hoặc tập trung. Tình trạng run của bệnh Parkinson có đặc điểm là đều đặn theo chu kì với 4 chu kì/giây. Run thường xuất hiện ở các ngón tay gây ra động tác như đếm tiền hay vê thuốc lào. Run cũng có thể xuất hiện ở chân, miệng hoặc vùng đầu. Triệu chứng run của bệnh Parkinson là run khi nghỉ, còn run của người cao tuổi bình thường là run khi vận động.

Giảm động: Đây là triệu chứng cơ bản và thường xuất hiện sớm ở bệnh nhân Parkinson. Các động tác của bệnh nhân khởi đầu chậm chạp, tốc độ thực hiện các động tác chậm và giảm biên độ của động tác khiến cho các động tác trở nên nghèo nàn. Hiện tượng giảm động thấy rõ ở chi trên, ngoài ra cũng có thể gặp ở các vận động khác như dáng đi, lời nói, nét mặt.

Tăng trương lực cơ kiểu ngoại tháp: Gây ra hiện tượng cứng kiểu ống chì hay uốn sáp. Khi làm động tác vận động thụ động thường thấy dấu hiệu cứng kèm theo dấu hiệu bánh xe răng cưa: Khi bác sĩ làm động tác duỗi sẽ cảm nhận hiện tượng duỗi xảy ra theo từng nấc chứ không liên tục, mềm mại.

Tư thế gấp: Nguyên nhân là do tăng trương lực cơ thuộc nhóm cơ gấp chiếm ưu thế tạo thành dáng người hơi gấp về phía trước. Lúc đầu, bệnh nhân bị gấp ở khuỷu tay. Đến giai đoạn sau, phần đầu và thân người bệnh bị chúi về phía trước, tay gấp và khép, chân gấp ít hơn. Phản xạ điều chỉnh tư thế của bệnh nhân giảm do đó dễ bị ngã giống như cây đổ khi bị đẩy nhẹ. Giai đoạn nặng, bệnh nhân có dấu hiệu “đông cứng”: Mỗi lần bắt đầu đứng dậy hoặc đi đều rất khó cử động. Hiện tượng đông cứng cũng có thể xuất hiện trong các hoạt động khác như nói, viết làm ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của bệnh nhân rất nhiều.

Ngoài các triệu chứng vận động, bệnh nhân Parkinson còn có thể gặp các triệu chứng khác như là:

Đau: Tình trạng này có thể do cứng cơ hoặc do nguồn gốc từ tủy sống. Triệu chứng đau ở bệnh nhân Parkinson thường khó để định khu và nặng thêm khi có trầm cảm nặng. Đau thường có ưu thế ở bên bất động nhiều hơn.

Rối loạn giấc ngủ: Có ba dạng rối loạn giấc ngủ xuất hiện đơn độc hoặc phối hợp, đó là: Mất ngủ, rối loạn hành vi ban đêm, các động tác bất thường ban đêm.

Rối loạn huyết áp: Bệnh nhân Parkinson thường hay bị hạ huyết áp tư thế.

Rối loạn tiêu hóa: Trào ngược dạ dày - thực quản, nôn hoặc táo bón.

Rối loạn tâm thần: Có thể bị trầm cảm, rối loạn nhân cách, loạn thần hoặc lo âu.

Rối loạn cơ vòng bàng quang với các biểu hiện như mót đái liên tục, đái són, đái nhiều hoặc đái dầm ban đêm.

Chẩn đoán bệnh Parkinson

Hiện nay đang áp dụng tiêu chuẩn của Hiệp hội bệnh Parkinson ở Anh (United Kingdom Parkinson’s Disease Brain Bank) để chẩn đoán và nghiên cứu bệnh Parkinson. Để chẩn đoán một người bị bệnh Parkinson cần phải trải qua các bước sau đây:

Bước 1: Chẩn đoán hội chứng Parkinson: Bệnh nhân có triệu chứng giảm động kèm theo ít nhất một trong các triệu chứng sau:

Cứng cơ

Run khi nghỉ 4-6Hz

Mất ổn định tư thế không phải do tổn thương tiểu não, tiền đình, cảm giác sâu.

Bước 2: Bệnh nhân phải không có các tiêu chí loại trừ bệnh Parkinson sau đây:

Tiền sử tai biến mạch máu não tái phát, tiến triển đột ngột.

Tiền sử chấn thương sọ nhiều lần.

Tiền sử gia đình có nhiều người bị hội chứng Parkinson?

Tiền sử viêm não.

Các cơn quay mắt.

Điều trị thuốc an thần kinh.

Bệnh có thời gian thuyên giảm kéo dài.

Các triệu chứng vẫn cố định một bên sau 3 năm liên tiếp.

Liệt trên nhân chức năng nhìn.

Hội chứng tiểu não.

Rối loạn thần kinh thực vật sớm và nặng.

Sa sút tâm thần sớm kèm theo các rối loạn trí nhớ ngôn ngữ và trí nhớ hành động.

Bệnh nhân có dấu hiệu Babinski.

Bệnh nhân có hình ảnh u não hoặc tràn dịch não.

Bệnh nhân không đáp ứng với điều trị Levodopa.

Bệnh nhân tiếp xúc với MPTP (1-methyl-4 phenyl-1,2,3,6 tetrahydropyridine)

Bước 3: Các tiêu chuẩn thuận lợi cho chẩn đoán bệnh Parkinson đó là:

Các triệu chứng khởi đầu ở một bên cơ thể.

Bệnh nhân có run khi nghỉ.

Bệnh tiến triển tăng dần.

Bệnh nhân đáp ứng tốt (>70%) với điều trị bằng Levodopa ở bên bị tổn thương ban đầu.

Các cử động múa giật rõ khi sử dụng Levodopa.

Nhạy cảm với điều trị bằng Levodopa trong ít nhất 4 năm.

Thời gian tiến triển bệnh trên 9 năm

Mời quý độc giả đón đọc kì 18 với nội dung tiếp theo: “Bệnh Parkinson và những điều cần biết” trong chuyên đề 7: “Sức khỏe não bộ”. Chuyên mục được sự đồng hành của Công ty CP truyền thông chăm sóc sức khỏe Sao Đại Việt - Phòng khám chuyên khoa Y học cổ truyền. Địa chỉ: Số 18 Nguyễn Đổng Chi, phường Cầu Diễn, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội.

Điện thoại: 0243.207.26.26 - Di động: 084.24.89.666

www.facebook.com/toasangtroiyeuthuong

www.saodaiviet.vn

Email: saodaiviet.vn@gmail.com

Youtube: Sao Đại Việt

Mọi ý kiến về bài viết, xin quý vị vui lòng liên lạc với địa chỉ trên.

Bạn đang đọc bài viết Sức khỏe não bộ tại chuyên mục Sức khỏe của Ngaymoionline.com.vn. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email baongaymoionline@gmail.com
Ý kiến của bạn
Tối đa 500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích

Đọc thêm

Cùng chủ đề Bệnh Parkinson

  Trong cùng chuyên mục Sức khỏe

Video