Tổng kết công tác năm 2025: Ngành Thể dục Thể thao tiếp tục hướng tới thành tích cao, quan tâm phát triển thể thao NCT
TW hội 13/11/2025 10:54
Đổi mới là một quyết định chiến lược, là lựa chọn phát triển dựa trên đổi mới tư duy, đổi mới thể chế, đổi mới phương thức lãnh đạo, gắn với mở cửa, hội nhập khu vực và thế giới. Đổi mới đã tạo ra bước phát triển nhảy vọt, đưa Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, trở thành nền kinh tế năng động, hội nhập sâu, tham gia tích cực vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Ngày nay, Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều quốc gia; là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; đóng góp tiếng nói cho các vấn đề toàn cầu như an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, thu hẹp bất bình đẳng phát triển.
![]() |
| Chủ tịch Nguyễn Thanh Bình và Phó Chủ tịch Phan Văn Hùng chủ trì Hội nghị |
Đại hội XIV đặt thể chế ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Báo cáo nêu rõ: Thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, và yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy để thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới. Trọng tâm của sự đổi mới ấy là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, xử lý đúng đắn quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội, và đặc biệt là khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động, phân bổ nguồn lực phát triển.
Nhà nước giữ trọng trách kiến tạo và bảo đảm trật tự công bằng. Thị trường là cơ chế chọn lọc nguồn lực. Khi thể chế đầy đủ, thị trường sẽ phát huy vai trò phân bổ hiệu quả. Đi cùng với đó là nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh - bảo đảm minh bạch, ổn định, có thể dự đoán - để giải phóng sức sản xuất và tạo động lực mới cho tăng trưởng. Thể chế, trong tinh thần ấy, không chỉ là khung khổ, mà là động cơ của phát triển.
Dự thảo Báo cáo chính trị đặt ra những mục tiêu kinh tế chưa từng có: Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người 8.500 USD, tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo 28% GDP, và kinh tế số đạt 30% GDP. Phía sau những con số này là sự đổi mới tư duy tăng trưởng: Không mở rộng bằng vốn và lao động, mà nâng chất lượng bằng năng suất và sáng tạo. Tỷ trọng TFP (năng suất tổng hợp) trên 55%, năng suất lao động tăng 8,5%/năm là cam kết cho mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức.
Trong bối cảnh nguy cơ tụt hậu và bẫy thu nhập trung bình đã được chỉ rõ, yêu cầu phát triển nhanh đi đôi với chất lượng cao không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà là đòi hỏi sinh tử của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới, sáng tạo
Dự thảo Báo cáo chính trị xác lập một định hướng rõ ràng: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ là động lực chính của tăng trưởng. Mục tiêu là nâng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của nền kinh tế, lấy kinh tế dữ liệu và kinh tế số làm trụ cột của mô hình phát triển mới (tư duy số).
Khái niệm “hiện đại hóa” được hiểu lại: Không còn là việc nhân rộng công xưởng, mà là làm mới động lực cũ bằng công nghệ mới. Quá trình chuyển đổi sẽ diễn ra đồng thời trên nhiều mặt - chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi nhân lực. Các lĩnh vực ưu tiên được xác định cụ thể: Bán dẫn, robot, vật liệu mới, công nghiệp sinh học, năng lượng tái tạo, công nghiệp không gian, lượng tử. Tư duy công nghiệp hóa thế hệ mới này hướng đến khả năng làm chủ công nghệ, thay vì chỉ gia công.
Muốn đạt tăng trưởng hai chữ số, nền kinh tế phải dựa vào tri thức, chứ không thể tiếp tục khai thác tài nguyên. Đó là biểu hiện rõ nhất của đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển.
Cơ cấu lại nền kinh tế, bảo đảm các cân đối lớn
Đổi mới tư duy phải đi cùng đổi mới cách phân bổ nguồn lực. Dự thảo nêu rõ: Cần cơ cấu lại nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở bảo đảm ổn định vĩ mô và các cân đối lớn.
Kinh tế nhà nước phải được tổ chức lại theo chuẩn mực quốc tế, tập trung vào những lĩnh vực then chốt. Chi ngân sách phải chuyển hướng mạnh sang đầu tư phát triển, với cơ chế, chính sách đầu tư công đủ linh hoạt để khơi thông vốn xã hội. Hệ thống ngân hàng cần được hiện đại hóa, xử lý triệt để các tổ chức yếu kém, kiểm soát sở hữu chéo và giữ an toàn hệ thống.
Những định hướng này cho thấy một tư duy nhất quán: Ổn định để phát triển, và phát triển để củng cố ổn định. Chỉ khi đầu tư công hiệu quả, tín dụng minh bạch và ngân sách kỷ luật, các chính sách tài khóa - tiền tệ mới thật sự hỗ trợ tăng trưởng dài hạn.
Hai động cơ phát triển song hành: Nhà nước và tư nhân
Dự thảo Báo cáo chính trị khẳng định rõ: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”, thể hiện sự thay đổi lớn trong nhận thức đã được thống nhất trong Nghị quyết 68 về kinh tế tư nhân.
Kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt hệ thống, nhưng động lực tăng trưởng chính phải đến từ khu vực tư nhân - nơi đổi mới, linh hoạt và năng động nhất. Nhà nước cần tạo môi trường bình đẳng, an toàn để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận đất đai, vốn và công nghệ; hỗ trợ hình thành các tập đoàn tư nhân Việt Nam có quy mô và sức cạnh tranh khu vực, đồng thời giúp doanh nghiệp nhỏ và kinh tế hợp tác vươn lên.
Khi hai khu vực này cùng vận hành, nền kinh tế sẽ có hai cánh để bay - một bên giữ ổn định, một bên thúc đẩy năng lực phát triển.
Ba tầng đột phá - từ tư duy đến thể chế và mô hình
Tổng thể Dự thảo cho thấy ba tầng đột phá được xác lập rõ ràng: 1. Đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển - phát triển là nền tảng của ổn định. 2. Đột phá thể chế - khẳng định vai trò quyết định của thị trường, Nhà nước chuyển sang kiến tạo và điều tiết. 3. Đột phá mô hình tăng trưởng - lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Ba tầng đột phá này tạo nên cấu trúc phát triển của giai đoạn mới: Tư duy là tiền đề, thể chế là công cụ, công nghệ là phương tiện, con người là chủ thể.
Đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển
Một xã hội phát triển bền vững là một xã hội coi trọng chân lý, lẽ phải, công bằng, nhân ái; một xã hội mà người già được tôn trọng (đạo lý), trẻ em được bảo vệ, phụ nữ được trao cơ hội bình đẳng, người yếu thế được che chở; một xã hội mà niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với chế độ, đối với tương lai luôn vững chắc. Phát triển mà thiếu các giá trị đó thì không phải là bền vững; không phải là mục đích của chúng ta.
Kinh tế bạc - động lực phát triển mới
Trong những năm gần đây, người ta nhắc nhiều tới “nền kinh tế bạc”. “Kinh tế bạc” (Silver Economy) là thuật ngữ chung bao gồm một loạt các hoạt động kinh tế nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho NCT và đóng góp của NCT vào phát triển kinh tế - xã hội - những người có đặc điểm chung là “mái tóc bạc”. Nền kinh tế bạc nổi lên như một trào lưu, một xu hướng và đặc biệt, như một bộ phận của nền kinh tế nói chung ở những nước đang trong quá trình già hoá dân số và dân số già. Nền kinh tế bạc là khái niệm chỉ tất cả các hoạt động kinh tế liên quan đến hàng hoá và dịch vụ được tạo ra và phục vụ sự tiêu dùng của NCT.
Do trên thế giới đang diễn ra quá trình già hóa dân số nhanh chóng, đồng thời, nhiều nước đã chuyển sang dân số già, nền kinh tế bạc là xu hướng tất yếu, ngày càng chiếm tỷ lệ đáng kể trong nền kinh tế nói chung và tác động đến mọi mặt của xã hội và NCT. Nền kinh tế bạc với rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, với doanh thu ngày càng lớn, là bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, tạo ra khối lượng sản phầm vật chất và dịch vụ đáng kể cho NCT.
Các ngành nghề, lĩnh vực liên quan thuộc về kinh tế bạc bao gồm: 1. Hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe (các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, các cơ sở y tế lão khoa, trung tâm điều dưỡng, dịch vụ chăm sóc tại nhà, các sản phẩm, trang thiết bị y tế chuyên biệt dành cho NCT). 2. Vui chơi giải trí (các hoạt động du lịch, thể dục thể thao, các dịch vụ văn hoá, nghệ thuật phục vụ nhu cầu giải trí, thưởng thức của NCT). 3. Bất động sản (xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống các cơ sở dưỡng lão, trung tâm nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, nhà ở dành cho NCT…). 4. Dịch vụ tài chính - ngân hàng (bảo hiểm y tế, bảo hiểm chăm sóc điều dưỡng, dịch vụ tư vấn tài chính và đầu tư, quản lý tài sản, dịch vụ tiết kiệm hưu trí…cho NCT). 5. Lao động và việc làm (các hoạt động và chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho NCT như hỗ trợ tài chính, cho vay vốn, tư vấn giới thiệu việc làm, cơ chế và chính sách ưu đãi các cơ sở thu hút lao động là NCT…). 6. Giáo dục đào tạo (cung cấp các dịch vụ đào tạo kỹ năng, bồi dưỡng, chuyển đổi nghề cho NCT có thể tham gia lao động; các dịch vụ đào tạo và cung cấp nhân lực cho các cơ sở điều dưỡng, trung tâm chăm sóc sức khoẻ và cơ sở y tế phục vụ người già). 7. Công nghệ có kiểm soát (cung cấp các trang thiết bị, giải pháp công nghệ thông minh dựa trên AI phục vụ người già, các ứng dụng số nhằm hỗ trợ đi lại, thông tin liên lạc, nghe nhìn… phục vụ cho cuộc sống hằng ngày của NCT). 8. Giao thông và đi lại (các dịch vụ, phương tiện giao thông, trang thiết bị phục vụ, hỗ trợ đi lại phù hợp và thuận tiện cho cho NCT). 9. Thực phẩm (các thực phẩm thông thường và thực phẩm chức năng sản xuất chuyên dành cho người già; các sản phẩm dinh dưỡng riêng…).
Có thể khẳng định, quá trình già hóa dân số và nhu cầu đặc thù của NCT là cơ sở nền tảng của nền kinh tế bạc, thúc đẩy hình thành trụ cột mới phát triển kinh tế chất lượng cao nhằm duy trì, giảm bớt gánh nặng kinh tế dành cho NCT, thúc đẩy sự hài hòa và ổn định xã hội đồng thời là động lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội chất lượng cao.
Việt Nam là nước diễn ra quá trình già hóa nhanh nhất thế giới, với thời gian khoảng 20 năm. Theo cơ sở dữ liệu thống kê của Bộ Công an, số NCT đến năm 2023 khoảng 17 triệu, chiếm gần 17% dân số. Dự kiến, đến khoảng 2036, Việt Nam sẽ chuyển sang dân số già. Đứng trước thực trạng này, Đảng, Nhà nước đã điều chỉnh định hướng, chủ trương về vấn đề dân số một cách phù hợp và đúng đắn. Theo đó, Đảng đã đề ra quan điểm chủ động thích ứng với già hóa dân số, chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Đồng thời, định hướng chính sách đối với NCT thể hiện ở cả 3 mặt: Bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò của NCT, trong đó, không chỉ coi NCT là đối tượng chăm sóc, gánh nặng về an sinh cho Nhà nước và xã hội, mà còn là nguồn lực bổ sung lực lượng lao động cho xã hội, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đây là điều hết sức quan trọng, thể hiện quan điểm đúng đắn về NCT, làm cơ sở cho sự phát triển kinh tế bạc ở nước ta hiện nay và trong thời gian tới.
Cũng giống như các nước, ở nước ta, nền kinh tế bạc với các ngành nghề, lĩnh vực tạo ra hàng hoá và dịch vụ liên quan, ngày càng trở nên thật sự cần thiết phục vụ trực tiếp cuộc sống, sinh hoạt của NCT. Bên cạnh đó, nền kinh tế bạc Việt Nam còn có một số đặc điểm riêng:
- Kinh tế bạc đã tồn tại hiện hữu, bước đầu phát triển, song chưa thật sự được xã hội, doanh nghiệp quan tâm, chú ý đúng mức. Nhìn chung, quy mô các ngành nghề, lĩnh vực thuộc kinh tế bạc còn nhỏ bé, phân tán, rời rạc, manh mún, chưa nổi lên là ngành kinh tế thực sự, tách bạch khỏi nền kinh tế chung.
- Hệ thống thể chế, luật pháp về nền kinh tế bạc chưa đầy đủ; cơ chế, chính sách nói chung và cho từng ngành, lĩnh vực còn thiếu, chưa đồng bộ; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trong các lĩnh vực, ngành đặc thù chưa có (ví dụ hệ thống nhà dưỡng lão, các trung tâm chăm sóc, nghỉ dưỡng NCT, cơ sở y tế lão khoa…); các quy chế, quy định, tiêu chuẩn hoá từng lĩnh vực phục vụ người già còn thiếu (ví dụ, trong xây dựng, giao thông vận tải, nhà ở, v.v)…
- Quá trình già hóa dân số đang đặt ra những thách thức cả về kinh tế và xã hội, theo đó, đòi hỏi phải hình thành những ngành, lĩnh vực tạo ra các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng của NCT, đồng thời tạo ra cơ hội và khả năng phát triển và kinh doanh rất nhiều lĩnh vực ngành nghề chăm sóc và phát huy nguồn lực của NCT.
- Việc hình thành và phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam dựa trên những đặc thù sau đây: Quá trình già hóa dân số của nước ta diễn ra vào loại nhanh nhất thế giới (khoảng 20 năm), trong khi các nước phương Tây quá trình này diễn ra hàng trăm năm. Nền kinh tế bạc hình thành và phát triển trong bối cảnh đất nước chưa giàu đã già, điều này khá tương đồng với một số nước Đông Nam Á, như Malaysia, Thái Lan. Hiện tượng già hoá dân số diễn ra trong điều kiện hệ thống an sinh xã hội chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu của tất cả các bộ phận dân cư (mới có khoảng hơn 1/3 NCT được hưởng bảo hiểm xã hội, trợ cấp hưu trí; còn 5% dân số chưa có bảo hiểm y tế; phần lớn NCT khu vực phi chính thức chưa được hưởng chế độ hưu trí và các khoản trợ cấp của Nhà nước…).
Tư duy phát triển mang tính thời đại
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV thể hiện một tầm nhìn rõ ràng: Việt Nam phải phát triển để giữ ổn định, và giữ ổn định bằng chính năng lực phát triển của mình. Tăng trưởng không còn chỉ là cộng vốn, lao động hay tài nguyên, mà là phép thử của thể chế, công nghệ và nhân lực.
Đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển - từ quản lý sang kiến tạo, từ điều hành sang dẫn dắt, từ ổn định thụ động sang phát triển chủ động - chính là thông điệp cốt lõi của Đại hội XIV.
Dự thảo viết: “Đất nước ta đã thực sự bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Tuy nhiên, trong 5 năm tới, đất nước ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Phát triển kinh tế - xã hội chưa bền vững… Quá trình già hoá dân số diễn ra nhanh hơn so với dự báo (trang 19, dòng 11 từ dưới lên).
Chúng ta bước vào giai đoạn phát triển mới với tư duy mới (tư duy số), nhưng với những giá trị không bao giờ thay đổi - đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển. Do đó, xin đề xuất đưa nội dung “Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới” vào Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.