Về xử lí hành vi “cố ý gây thương tích” cho ông Nguyễn Quốc Oai, ở phường Phước Tân, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:Có dấu hiệu oan sai, vi phạm thủ tục tố tụng (Tiếp theo kì trước)

Về phía Cơ quan CSĐT Công an TP Biên Hòa yêu cầu ông Nhất phục vụ công tác điều tra vụ án, vì lí do phục hồi điều tra vụ án theo nội dung Bản kết luận điều tra vụ án hình sự số 541/KLĐT-HS đề nghị truy tố ông Nhất tội “Cố ý gây thương tích”, được quy định tại Khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Mai Thân
11:18, 15/11/2019

Trong khi đó thời điểm ông Nhất thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 15/3/2012, nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật. Căn cứ điểm a, Khoản 1, Điều 9 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, về phân loại tội phạm: “(1). Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 4 loại sau đây: (a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm”. Căn cứ điểm a, Khoản 2, Điều 27 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự’ “(1). Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. (2). Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau: (a) 5 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng”.

Đơn xin bãi nại của ông Nguyễn Quốc Oai.
Đơn xin bãi nại của ông Nguyễn Quốc Oai.

Trong vụ án này, Cơ quan CSĐT, Công an TP Biên Hòa ban hành quyết định truy nã có dấu hiệu trái pháp luật, nên không có cơ sở căn cứ Khoản 2, Điều 27 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự “Nếu trong thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ”.

Từ những cơ sở pháp lí được phân tích và viện dẫn nêu trên cho thấy, có dấu hiệu Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 541/KLĐT-HS, ngày 15/10/2019 của Cơ quan CSĐT Công an TP Biên Hòa là thiếu thuyết phục, không đúng pháp luật; không chỉ rõ căn cứ nào, tình tiết nào là tình tiết khách quan, phù hợp bản chất sự thật vụ án để khởi tố trong vụ án hình sự; tại khoản nào đã được phân tích và viện dẫn những văn bản, những quy định cũng như những dẫn liệu về sự phù hợp của các tình tiết khách quan của vụ án với các quy định buộc phải khởi tố trong trường hợp đề nghị truy tố tội “Cố ý thương tích” theo Khoản 2, Điều 134 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản kết luật số 541/KLĐT-HS đề nghị truy tố có dấu hiệu oan sai, vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng và có dấu hiệu của tội phạm Xâm phạm hoạt động tư pháp;

Yêu cầu giải quyết vụ án khách quan!

Trong đơn kêu oan, ông Nhất đề nghị Viện trưởng Viện KSND TP Biên Hòa thực hiện chức năng giám sát, kiến nghị Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an TP Biên Hòa ban hành Quyết định rút Quyết định truy nã trái pháp luật, rút Quyết định Phục hồi điều tra vụ án hình sự, rút Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 541/KLĐT-HS, ngày 15/10/2019 của Cơ quan CSĐT Công an TP Biên Hòa và ban hành Quyết định đình chỉ điều tra, Quyết định đình chỉ vụ án hình sự, đình chỉ bị can theo quy định pháp luật; với các căn pháp lí:

Căn cứ Khoản 1, Điều 33 Thông tư Liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018, quy định về phối hợp giữa Cơ quan Điều tra và Viện KSND trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đình chỉ điều tra: “(1). Khi có căn cứ đình chỉ điều tra, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp rà soát chứng cứ, tài liệu bảo đảm việc đình chỉ điều tra có căn cứ, đúng quy định tại Điều 230, Điều 443 Bộ luật Tố tụng hình sự; nếu thấy đủ căn cứ thì Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can; nếu thấy không đủ căn cứ thì Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra”;

Căn cứ Điểm b, a Khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2015. Đình chỉ điều tra: “(1). Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp: (a) Có một trong các căn cứ quy định tại Khoản 2, Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc Khoản 2, Điều 91 của BLHS; (b) Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

Căn cứ Khoản 1, Điều 235 Bộ luật TTHS năm 2015. Phục hồi điều tra: “(1). Khi có lí do để hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu việc điều tra bị đình chỉ theo quy định tại Khoản 5 và Khoản 6, Điều 157 của Bộ luật này mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định phục hồi điều tra”;

Căn cứ Điều 157 Bộ luật TTHS năm 2015. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự. Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau: “(1). Không có sự việc phạm tội; (2). Hành vi không cấu thành tội phạm; (3). Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; (4). Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; (5). Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; (6). Tội phạm đã được đại xá; (7). Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; (8). Tội phạm quy định tại Khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố”;

Căn cứ Văn bản số 5003/VKSTC-V14 ngày 2/12/2016 của Viện KSND Tối cao hướng dẫn áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội, trong BLHS năm 2015 và các quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 để thi hành các quy định có lợi cho người phạm tội;

Căn cứ Chương IV về phối hợp trong kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; Thông tư Liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 5/9/2018, quy định việc phối hợp thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo.

Báo Người cao tuổi chuyển nội dung nguyện vọng của ông Vũ Văn Nhất đến các cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét, giải quyết lại toàn bộ nội dung vụ án bảo đảm khách quan, xử lí đúng người người, đúng tội theo quy định của pháp luật

Bạn đang đọc bài viết Về xử lí hành vi “cố ý gây thương tích” cho ông Nguyễn Quốc Oai, ở phường Phước Tân, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:Có dấu hiệu oan sai, vi phạm thủ tục tố tụng (Tiếp theo kì trước) tại chuyên mục Pháp luật - Bạn đọc của Ngaymoionline.com.vn. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email baongaymoionline@gmail.com
Ý kiến của bạn
Tối đa 500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích

Đọc thêm

Cùng chủ đề TP Biên Hòa

  Trong cùng chuyên mục Pháp luật - Bạn đọc