Xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang: Quá nhiều sai phạm khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất

Báo Người cao tuổi nhận đơn kèm theo hồ sơ của bà Dương Ngọc Hạnh, ở tổ 2, ấp Rạch Vẹm, xã Gành Dầu phản ánh việc nhiều bất cập, mâu thuẫn trong giải quyết tranh chấp; Hội đồng hòa giải UBND xã Gành Dầu làm trái thẩm quyền bằng việc tự ý kết luận đúng sai, không thừa nhận việc tranh chấp đất đai; không có biện pháp ngăn chặn hành vi phá hoại tài sản công dân…

Mai Thân
09:03, 21/05/2019

Nguồn gốc đất tranh chấp

Theo lời trình bày của các con bà Trần Thị Ba và người dân sống tại tổ 2 và tổ 3, ấp Rạch Vẹm, xã Gành Dầu: Bà Ba cùng chồng là ông Dương Văn Nhẫn, nguyên quán tại huyện Phú Quốc. Ông Nhẫn được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì; bà Ba được Nhà nước tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì và Chính phủ tặng Kỉ niệm chương Chiến sĩ Cách mạng bị địch bắt tù đày. Gia đình ông Nhẫn, bà Ba được Nhà nước tặng Nhà tình nghĩa. Ông Nhẫn chết trước, bà Ba chết năm 2009, Nhà tình nghĩa do anh Dương Văn Long, con trai ông Nhẫn và bà Ba quản lí, sử dụng đến nay. Sinh thời, ông Nhẫn và bà Ba tạo lập sử dụng phần đất giáp suối Bà Ba Nhẫn (ghép tên của 2 vợ chồng). Lúc vợ chồng bà Ba khai mở đất, lập vườn, đất của vợ chồng bà Ba liền một thửa; trên đất có ngôi nhà tình nghĩa trên. Theo thời gian, đường mòn dân sinh được hình thành, chia đất của bà Ba thành 2 phần. Đến năm 2007, bà Ba chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn Bản, được cán bộ địa chính xã Gành Dầu lập Biên bản xác định ranh giới, mốc giới và hiện trạng sử dụng đất, có sơ đồ vị trí đất quy hoạch lộ giới (tính từ tim lộ vào 15 mét) và thủy giới (giáp suối, tính từ tim suối vào 15 mét); có 2 biên bản thể hiện chủ sử dụng đất tên bà Ba và ông Bản đề cùng ngày 20/6/2007. Về sự việc này, tại Biên bản xét duyệt đất đai của Hội đồng tư vấn giao đất và đăng kí đất đai - xét đợt 18, ngày 18/7/2009 của UBND xã Gành Dầu, thể hiện đất của bà Ba có các thửa số 8, tờ bản đồ 15, đất là 9.934,6m2; số 9, tờ bản đồ 15, đất là 11.810,7m2 và 8.696,28m2 đất + diện tích đất của hình tam giác ghi tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/7/2007 giữa bà Ba và ông Bản.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 8/8/2011 giữa bà Đa và bà Nga, chỉ chuyển nhượng 9.262,6m2; không có nội dung nào thể hiện chuyển nhượng 2.506,4m2 đất tranh chấp.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 8/8/2011 giữa bà Đa và bà Nga, chỉ chuyển nhượng 9.262,6m2; không có nội dung nào thể hiện chuyển nhượng 2.506,4m2 đất tranh chấp.

Về 8.696,28m2 đất + diện tích đất của hình tam giác trên, được cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) huyện Phú Quốc đo đạc bằng máy đo vệ tinh, có tọa độ X, Y cộng lại thành 9.262,6m2, được UBND huyện Phú Quốc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho ông Bản vào ngày 19/10/2010. Phần còn lại là diện tích đất quy hoạch làm lộ giới, thủy giới. Tuy nằm liền kề 2 cạnh đất của ông Bản, nhưng không phải là đất của ông Bản, bởi thực tế Nhà nước lấy đất của bà Ba quy hoạch lộ giới, thủy giới. Bà Ba không thể chuyển nhượng phần diện tích đất quy hoạch lộ giới, thủy giới này cho ông Bản. Đây là phần đất đang tranh chấp.

Nhiều bất cập, mâu thuẫn trong giải quyết tranh chấp

Một, Biên bản xét duyệt đất đai của Hội đồng tư vấn giao đất và đăng kí đất đai xét đợt 18 ngày 18/7/2009 của UBND xã Gành Dầu, kết luận ông Nguyễn Văn Bản có 11.406,2m2 đất tại thửa số 15; tờ bản đồ số 15 đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ. Tuy nhiên, kết luận này không đúng thực tế, bởi Hội đồng tư vấn chưa xác định diện tích đất nào đủ điều kiện và không đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ. Mặt khác, Hội đồng tư vấn cũng chưa làm rõ, để xác định phần diện tích đất bị đưa vào quy hoạch lộ giới, thủy giới (giáp suối) là đất có nguồn gốc của ai bị trừ. Hai, tại sao cán bộ Phòng TN&MT huyện Phú Quốc khi thực hiện kẻ sơ đồ trong GCNQSDĐ của ông Bản, đã không thẩm định lại diện tích đất thuộc lộ giới, thủy giới (giáp suối) là đất có nguồn gốc của ông Bản hay là của bà Ba? Trong khi đó, cán bộ Phòng TN&MT lại tự ý ghi tên ông Bản là người có đất giáp ranh (tại điểm 1 đến điểm 8 của sơ đồ trong GCNQSDĐ của ông Bản). Việc tùy tiện ghi tên như thế này, khiến cho bà Đa (vợ ông Bản) và bà Dương Kim Nga (người nhận đất chuyển nhượng của bà Đa) đều cho rằng, phần đất lộ giới, thủy giới (giáp suối) là của ông Bản, nên 2 bên tự ý coi là có thể xác lập hợp đồng chuyển nhượng ngày 8/8/2011 đối với cả phần đất lộ giới, thủy giới. Ba, chưa làm rõ các vấn đề, như: Đoàn đo đạc đất của huyện Phú Quốc kết hợp UBND xã Gành Dầu thực hiện đo đạc đất để lên phương án dự kiến bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Bản, đã thực hiện đo đạc đất từ khi nào? Thành phần tham gia đo đạc có những ai? Có biên bản ghi nhận tên và chữ kí của người có đất giáp ranh với đất của ông Bản hay không? Dựa vào cơ sở nào để cho ra diện tích 2.506,4m2 là đất của ông Bản, nằm ngoài GCNQSDĐ của ông Bản? Bốn, theo Điều 3 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 8/8/2011 giữa bà Đa và bà Nga, thì bà Đa có nghĩa vụ giao diện tích đất ghi tại Điều 1 là 9.262,6m2. Riêng diện tích 2.506,4m2 không có một nội dung nào trong Hợp đồng chuyển nhượng này quy định nghĩa vụ của bà Đa là phải giao diện tích 2.506,4m2 đất cho bà Nga. Năm, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 8/8/2011 giữa bà Đa và bà Nga, có nói đến 2.506,4m2 đất trên. Trong khi thời hiệu Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, về thi hành Luật Đất đai năm 2003 còn hiệu lực thi hành; Khoản 1, Điều 103 Nghị định số 181 quy định: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất. Như vậy, việc coi Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đa và bà Nga có cả 2.506,4m2 đất quy hoạch lộ giới, thủy giới (thuộc trường hợp pháp luật không cho phép chuyển nhượng), là không có cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng quyền này sẽ là vô hiệu vì có vi phạm quy định tại Khoản 1, Điều 103 trên. Sáu, ông Phạm Hữu Kiệt, Phó Chủ tịch UBND xã Gành Dầu, Phó Chủ tịch Hội đồng hòa giải và các thành viên có mặt tại buổi hòa giải tranh chấp đất đai ngày 19/4/2019, chưa nhận ra việc Hội đồng tư vấn xét đợt 18 ngày 18/7/2009 của UBND xã Gành Dầu kết luận đề nghị cấp GCNQSDĐ cho ông Bản 11.406,2m2 là đúng chỗ nào và sai chỗ nào. Và Biên bản hòa giải ngày 19/4/2019, ghi nhận hòa giải không thành, nhưng lại có nội dung: "Thừa nhận diện tích 850,54m2 nằm trong diện tích 2.506,4m2 cho bà Dương Thị Kim Nga; không thừa nhận việc tranh chấp của gia đình bà Hạnh", việc này là hoàn toàn trái thẩm quyền. (Còn nữa)
Bạn đang đọc bài viết Xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang: Quá nhiều sai phạm khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại chuyên mục Pháp luật - Bạn đọc của Ngaymoionline.com.vn. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email baongaymoionline@gmail.com
Ý kiến của bạn
Tối đa 500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích

Đọc thêm

  Trong cùng chuyên mục Pháp luật - Bạn đọc