Tuổi cao gương sáng

Thứ sáu, 18-01-2019 | 08:57 GMT+7

Thực trạng, giải pháp xây dựng phát triển Quỹ Chăm sóc và Phát huy vai trò NCT ở cơ sở

 Người cao tuổi (NCT) là nền tảng của gia đình, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, có nhiều cống hiến cho xã hội; là nhân chứng, sợi dây nối liền giữa quá khứ và hiện tại, là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội. Đảng, Nhà nước luôn quan tâm chăm sóc, phát huy vai trò NCT; ban hành nhiều văn bản pháp luật, chế độ, chính sách về chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần của NCT; trong đó có việc xây dựng Quỹ Chăm sóc và Phát huy vai trò (CS&PHVT) NCT.

Cơ sở pháp lí và kết quả thực hiện

Điều 22 Pháp lệnh số 23/2000PL-UBTVQH10 ngày 28/4/2000 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định: "Nhà nước khuyến khích tổ chức của NCT lập Quỹ Chăm sóc NCT… từ nguồn tự nguyện của NCT, sự hỗ trợ hảo tâm, từ thiện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước". Ngày 26/3/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 30/2002/NĐ-CP quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh NCT, tại Điều 13 ghi rõ: "Hội NCT ở TW và ở cấp xã được lập Quỹ Chăm sóc NCT". Đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp chăm sóc, phát huy NCT trong giai đoạn mới, Quốc hội khóa XII, Kì họp thứ 6 thông qua Luật NCT có hiệu lực thi hành từ 1/7/2010; Điều 7 quy định việc thành lập, hoạt động và quản lí Quỹ CS&PHVT NCT. Ngày 12/4/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 30/2012/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết về tổ chức, hoạt động của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Chương trình Hành động Quốc gia về NCT Việt Nam giai đoạn 2012-2020 của Chính phủ đề ra chỉ tiêu đến năm 2020 trên 80% số xã, phường thị trấn hỗ trợ thành lập và hoạt động của Quỹ CS&PHVT NCT trên địa bàn.

Những năm qua, Hội NCT Việt Nam ban hành nhiều văn bản hướng dẫn các cấp Hội triển khai pháp luật về NCT, xây dựng Quỹ; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo, tập huấn; Đề án 113 về củng cố, phát triển Quỹ CS&PHVT NCT ở cơ sở.

 Đại hội V Hội NCT Việt Nam, nhiệm kì 2016-2021 triển khai đồng bộ hai chương trình công tác lớn, trong đó có chương trình "NCT tham gia xây dựng, phát triển Quỹ CS&PHVT NCT ở cơ sở", phấn đấu đến cuối nhiệm kì có 90% trở lên số xã, phường, thị trấn thành lập và duy trì hoạt động thường xuyên của Quỹ.
Phó Chủ tịch Nguyễn Hòa Bình (bìa phải) với các đại biểu dự Hội nghị.      Ảnh Thanh Hà 

Đến nay đã có 62/63 tỉnh, thành phố có Quỹ CS và Quỹ CS&PHVT NCT ở 9.453 xã, phường, thị trấn, đạt tỉ lệ 84% số cơ sở. Trong đó, Quỹ CS NCT thành lập theo Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26/3/2002 của Chính phủ có 2.143 xã, đạt 23%; Quỹ thành lập theo Nghị định số 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ có 5.344 xã, đạt tỉ lệ 56%. Quỹ thành lập theo Đề án 113 ngày 24/4/2014 của Ban Thường vụ TW Hội có 1.966 xã, đạt 21%; 21/62 tỉnh, thành phố đạt tỉ lệ 100% số xã có Quỹ.

Kinh nghiệm bước đầu

Cấp ủy, chính quyền tỉnh, thành phố nhận thức rõ trách nhiệm triển khai thực hiện Luật NCT, Chương trình Hành động Quốc gia về NCT giai đoạn 2012-2020. Có chủ trương chỉ đạo sát sao, hướng dẫn cụ thể tạo sự đồng thuận trong Nhân dân tích cực tham gia xây dựng Quỹ. Bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy, chính quyền; sự tham gia của MTTQ, các ban, ngành, đoàn thể; Hội NCT giữ vai trò nòng cốt trong quá trình xây dựng Quỹ. Có giải pháp tích cực chuyển đổi "Quỹ CS NCT" sang cơ chế quản lí điều hành "Quỹ CS&PHVT NCT" theo quy định của pháp luật. Linh hoạt, sáng tạo vận động nguồn lực.
Nguồn quỹ mạnh tạo điều kiện chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho NCT. Ảnh Thanh Hà

Tuy nhiên, hiện nay việc xây dựng quỹ vẫn còn những khó khăn hạn chế như: Một số nơi cấp ủy, chính quyền nhận thức chưa đầy đủ, cho đây là quỹ của Hội NCT nên thiếu quan tâm chỉ đạo. Số khác chưa tích cực, thiếu quyết tâm vận động để đủ điều kiện về tài chính, tài sản thành lập Quỹ, còn trông chờ ngân sách nhà nước. Lúng túng khi thực hiện các thủ tục thành lập, xây dựng quy chế và điều lệ Quỹ. Một số khó khăn khách quan: Cơ chế thành lập, quản lí khá chặt chẽ; quy trình, điều kiện thành lập chưa phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và năng lực của cán bộ cơ sở, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; vận động nguồn lực quỹ gặp không ít khó khăn.

Thời gian tới, các cấp Hội tiếp tục những nhiệm vụ trọng tâm sau: 1. Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức; xác định xây dựng Quỹ CS&PHVT NCT là trách nhiệm chung của cấp ủy, chính quyền các cấp và toàn xã hội trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, các quy định pháp luật về NCT, góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. 2. Các cấp Hội phải thực sự làm nòng cốt, chủ động trong quá trình xây dựng hình thành Quỹ, tham gia quản lí phát huy hiệu quả Quỹ ở cơ sở. 3. Tổ chức tổng kết 5 năm xây dựng, quản lí và sử dụng Quỹ theo chương trình Nghị quyết Đại hội V Hội NCT Việt Nam. 4. Kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Chương trình NCT tham gia xây dựng, phát triển Quỹ trong những năm còn lại của nhiệm kì. 5. Tuyên truyền, giới thiệu các mô hình về xây dựng, phát triển Quỹ hiệu quả thông qua hội nghị chuyên đề, các phương tiện thông tin đại chúng. 6. Kiến nghị, sửa đổi bổ sung hoàn thiện các văn bản pháp luật về Quỹ như: Chính phủ có văn bản chỉ đạo chính quyền các cấp lãnh đạo xây dựng Quỹ CS&PHVT NCT theo quy định của Luật NCT; sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định số 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ, đơn giản hơn về thủ tục thành lập Quỹ ở từng cấp; giảm về mức tài chính, tài sản ban đầu; các bộ, ngành liên quan rà soát sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn về tổ chức hoạt động, quản lí sử dụng tài chính của Quỹ phù hợp với thực tiễn. Đề nghị Chính phủ có văn bản chỉ đạo chính quyền các cấp lãnh đạo xây dựng Quỹ Chăm sóc và Phát huy vai trò NCT theo quy định của Luật NCT
Nguyễn Hòa Bình 
Phó Chủ tịch Hội NCT Việt Nam