Tranh chấp lô đất 39 Phùng Hưng, TP Nha Trang: Nỗi đau “huynh đệ tương tàn” (Kì 4)

Không chống đỡ nổi làn sóng giấy tờ giả và tài liệu không có giá trị pháp lí, hoặc pháp lí "thấp" ập đến từ ông Trần Quang Quynh, các ngành chức năng, đơn vị… liên quan và TAND TP Nha Trang, ông Trần Quang Khuynh quyết định từ bỏ quyền lợi trên lô đất 39C Phùng Hưng của mình. Nhưng… “cây muốn lặng mà gió chẳng đừng”…  

15:45, 29/03/2019
(Tiếp theo kì trước)

Bài IV: Lí lẽ của HĐXX cấp sơ thẩm
Từ những diễn biến của vụ kiện, ngày 17/8/2015, ông Trần Quang Khuynh viết đơn gửi Tòa án với nội dung: “Tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì yêu cầu đó không có căn cứ…”. Ngày 15/9/2015, ông Khuynh viết lá đơn thứ hai có nội dung: “Tôi từ bỏ quyền sử dụng lô đất 39C Phùng Hưng, phường Phước Long, nên tôi chấm dứt đóng thuế”… “Do tôi tuyên bố chấm dứt quyền sử dụng lô đất, nên tôi không đến Toà”. “Hồ sơ giấy tờ mua đất hiện nay tôi đang giữ, nếu ông Quynh cần, tôi cho…”.
Ngày 17/9/2015, ông Trần Quang Khuynh nhận được văn bản của Tòa cho biết, đã nhận được đơn. Tòa không nói rõ có chấp nhận hay không, nhưng khi mở phiên tòa vào ngày 18/9/2015, thì ông Khuynh không được triệu tập. Theo ông Khuynh, nếu Tòa không chấp nhận thì vẫn phải triệu tập, trường hợp chấp nhận thì yêu cầu ông Quynh rút đơn, đình chỉ vụ kiện. Đằng này Tòa không làm như thế, mà vẫn đưa ra xét xử với “quyết tâm” phải ra cho được bản án.
Phiên tòa xét xử một chiều, HĐXX và ông Trần Quang Quynh mặc sức độc diễn. Ông Quynh nêu lại những tài liệu, chứng cứ mà ông Khuynh cho là giả, không có tính pháp lí hoặc tính pháp lí thấp, còn HĐXX thì “xét thấy”: “Tại phiên tòa sơ thẩm ông Khuynh vắng mặt không có lí do!?”. “Ông Hùng, bà Nhân có đơn xin vắng mặt”. Về nguồn gốc đất, Tòa vẫn sử dụng bản sao y của HVHQ làm căn cứ. Từ đó HĐXX lại “xét thấy”: “Năm 1991 ông Lê Anh Hùng và bà Lương Thị Nhân bán cho vợ chồng ông Trần Quang Quynh và bà Lê Thị Thanh Tuấn một phần lô đất số 39, đường Phùng Hưng…”; trong khi giấy Biên nhận ngày 1/3/1991 lại ghi: Nhượng bán cho anh Trần Quang Thuấn (em ruột anh Quynh giáo viên trường SQHQ…).
Nực cười là HĐXX đã lấy bản cam kết của vợ chồng ông Quynh ngày 27/4/2015 và ngày 15/7/2015, về việc vợ chồng bà Lương Thị Nhân chuyển nhượng lô đất cho ông Quynh, để khẳng định đó là đất ông Quynh, bà Tuấn. HĐXX cho rằng: “Lô đất nói trên là của ông Trần Quang Quynh vì đã thực hiện các nghĩa vụ thuế từ năm 2006 đến 2015”, nhưng không làm rõ bản kê khai và nộp thuế đó đúng sai như thế nào, có do Đội thuế phường Phước Long và Chi cục Thuế TP Nha Trang làm hộ ông Quynh, như ông Khuynh nói hay không? Tại sao mã số thuế của ông Quynh lại trùng lắp với mã số thuế của ông Khuynh? Lô đất 39C Phùng Hưng được chuyển nhượng từ năm 1991, HĐXX viện dẫn ông Quynh, bà Tuấn kê khai nộp thuế từ năm 2006. Vậy từ năm 2005 về 1991 ai đóng? HĐXX đã làm rõ chưa? Trong lúc đó, HĐXX lại hí hửng trích toàn bộ nội dung xác nhận ngày 17/12/2009 của Chủ tịch UBND phường Phước Long, bà Lê Thị Mai Loan: “Địa chỉ 39C Phùng Hưng hiện tại do ông Trần Quang Quynh đang quản lí sử dụng theo biên lai thuế số 21375, kê khai đóng thuế ngày 21/4/2009, hiện tại chưa có đơn thư tranh chấp, kính chuyển cơ quan chức năng xem xét giải quyết”.

Tờ kê khai thuế của ông Trần Quang Quynh đầy rẫy những dấu hiệu sai sự thật
được TAND TP Nha Trang sử dụng như là một tài liệu mấu chốt của vụ án

Rất buồn cho HĐXX ở chỗ, bà Chủ tịch UBND phường Phước Long viết dòng xác nhận này, có lẽ trong tình trạng ngái ngủ, vì đơn đề ngày 16/12/2009 của ông Quynh xin xác nhận có nhà ở, mục đích để mắc điện, mắc nước, cho thuê, chứ không phải xin xác nhận tình trạng sử dụng đất. Bà Loan còn nhập nhèm về “biên lai thuế số 21375 kê khai đóng thuế ngày 21/4/2009”, trong khi Chi cục Thuế lại nói khai thuế năm 2004 và ông Quynh, bà Tuấn khai năm 2006. Bà Loan còn nói tờ khai đóng thuế cả nhà đất và thuế đất phi nông nghiệp; nhưng HĐXX không nhận ra, cứ hùa theo, gây lẫn lộn giữa biên lai thuế và kê khai thuế, cũng như thuế nhà đất và thuế đất phi nông nghiệp. Cả bà Loan và HĐXX bị ông Quynh lừa, dẫn dụ vào “trận đồ bát quái”; đơn xin xác nhận có nhà ở để mắc điện, mắc nước, cho thuê, ghi ngày 16/12/2009, nhưng Hợp đồng mắc điện, mắc nước, cho thuê lại kí trước đó hơn một năm. Cụ thể vào các ngày 14/4/2008 (thuê đất); ngày 31/5/2008 (mắc nước); ngày 3/6/2008 (mắc điện). Điều này làm lộ diện thêm một tình tiết có dấu hiệu giả dối nữa, đó là không rõ căn cứ vào đâu mà Công ty cấp thoát nước và Điện lực Khánh Hòa lại kí hợp đồng mắc điện, mắc nước cho ông Quynh, khi ông chưa được chính quyền địa phương xác nhận có nhà ở. Hợp đồng đứng tên ông Quynh, nhưng không có địa chỉ chỗ ở, CMND, số điện thoại 0914012094 cũng không phải của ông Quynh nốt. Điều oái oăm hơn, cả hai hợp đồng nước và điện đã bị giả mạo chữ kí của ông Trần Quang Quynh. Nhưng rồi cả điện và nước, cũng như kho chứa phế liệu như Hợp đồng thuê đất ngày 26/4/2008 giữa ông Quynh và vợ chồng ông Nguyễn Viết Yến, bà Vũ Thị Châm (người thuê đất), cũng không có. Bằng chứng là ngày 28/7/2015, khi Hội đồng định giá tài sản TAND TP Nha Trang, do thẩm phán Nguyễn Đình Dũng làm Chủ tịch, xuống hiện trường định giá tài sản thì đã xác định: Không có tài sản trên đất.
Một nội dung rất quan trọng, hồ sơ kê khai nộp thuế mang tên Trần Quang Quynh từ năm 2004 đến 2014, do Đội thuế phường Phước Long và Chi cục Thuế TP Nha Trang làm giúp, mà theo ông Khuynh là trùng với mã số thuế của ông và chữ kí trong tờ khai là giả mạo, đề nghị Tòa trưng cầu giám định. Số tiền ghi trên biên lai thuế của ông Quynh có năm không có và có năm không đúng với số tiền lưu trong sổ bộ của Chi cục Thuế; nhưng không được HĐXX đưa ra phân tích, đánh giá và cho đi giám định, mà vẫn được lấy làm căn cứ. HĐXX không nói gì đến hồ sơ thuế của ông Khuynh kê khai và nộp từ năm 2004, truy thu thuế năm 2003, 2002, 2001; Không phân tích lí giải vì sao giấy biên nhận mua bán đất năm 1991 đứng tên ông Thuấn; vì sao năm 1995 lại có giấy chuyển tên từ ông Thuấn sang ông Khuynh? Vì sao bà Nhân lại nhận tiền từ ông Thuấn để nộp thuế cho ông Khuynh từ năm 1991 đến năm 2000, mà lại không nhận tiền từ ông Quynh? Trong khi ông Khuynh cung cấp đầy đủ hồ sơ gốc, nhưng HĐXX lại “xét thấy” “không có gì mới” v.v…
Điều trớ trêu, khi ông Khuynh làm đơn từ bỏ quyền và nghĩa vụ về lô đất, thì HĐXX cho rằng: “Ông Khuynh đã thừa nhận không còn là chủ lô đất”. Nói như thế có nghĩa là Tòa thừa nhận trước đó, lô đất 39C Phùng Hưng là của ông Khuynh rồi. Thực tế, hồ sơ lô đất ông Khuynh đang giữ; ông Trần Quang Quynh, dẫu có tài thánh cũng không thể xin cấp được sổ đỏ. HĐXX, nhất là thẩm phán Nguyễn Đình Dũng biết rất rõ điều đó, nên “quyết tâm” ra cho được bản án.
Với những gì “nhận thấy” và “xét thấy” như vậy, HĐXX TAND TP Nha Trang tuyên xử: “Công nhận toàn bộ diện tích 128,7m2 tại 39C Phùng Hưng, phường Phước Long, TP Nha Trang thuộc quyền sử dụng của ông Trần Quang Quynh và bà Lê Thị Thanh Tuấn”. HĐXX còn tuyên một nội dung hết sức lạ đời nữa, mặc dù ông Trần Quang Khuynh đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ đối với lô đất của mình, nhưng ông Khuynh vẫn phải nộp án phí sơ thẩm số tiền 16.087.500 đồng. Bởi thế, ông Khuynh kháng cáo toàn bộ bản án.
Đơn kháng cáo của ông Trần Quang Khuynh nêu: Lô đất ông đang quản lí sử dụng cả ngoài thực địa lẫn giấy tờ, HĐXX không tuyên buộc ông phải giao cho ông Quynh, nên ông không có nghĩa vụ giao đất và giấy tờ về đất. Ông Khuynh còn khẳng định: HĐXX không buộc ông giao đất thì không thể bắt ông nộp án phí.
(Còn nữa)
Điều tra của Nguyễn Xuân
Bạn đang đọc bài viết Tranh chấp lô đất 39 Phùng Hưng, TP Nha Trang: Nỗi đau “huynh đệ tương tàn” (Kì 4) tại chuyên mục Pháp luật - Bạn đọc của Ngaymoionline.com.vn. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email baongaymoionline@gmail.com
Ý kiến của bạn
Tối đa 500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích

Đọc thêm

  Trong cùng chuyên mục Pháp luật - Bạn đọc