TP Hồ Chí Minh: Những góc khuất từ phiên tòa xử vụ mua bán nhà số 59 đường K4, phường 12

Ngày 26/3/2019, TAND TP Hồ Chí Minh xét xử vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua nhà đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”. Do vi phạm pháp luật, bản án đã bị nguyên đơn và Viện KSND TP Hồ Chí Minh kháng cáo và kháng nghị,...

Trần Thị Thực
08:30, 27/11/2019

Tài sản trong thời kì hôn nhân là của ông Song và bà Thảo

Ông Trần Hữu Song và bà Đỗ Thị Thảo cưới nhau năm 1984 và không có con chung. Trước khi lấy nhau, bà Thảo có 2 con riêng (Trần Anh Nam, sinh năm 1968 và Trần Thanh Hương, sinh năm 1970); ông Song có 3 con riêng.

Trong quá trình hôn nhân, ông Song, Trung tá công tác tại Trường sĩ quan Lục quân 2, được Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng, cấp lô đất C44, K300 (100m2), tại phường 12, quận Tân Bình (nay là nhà số 59 đường K4), theo Quyết định số 007/QĐ-DTB ngày 10/4/1990, do Trung tá Nguyễn Thanh Phương, Phó Cục trưởng Cục Doanh trại kí. Vợ chồng ông Song, bà Thảo đã xây dựng ngôi nhà cấp 4 tại lô đất được phân, nhưng gia đình không ở đây mà ở tại 48 Nguyễn Đình Chiểu, quận 1, TP Hồ Chí Minh.

Hai quyết định giao lô đất C44 K300, phường 12, quận Tân Bình, Quyết định số 007 là quyết định thật, Quyết định số 74 là quyết định có nội dung giả tạo.
Hai quyết định giao lô đất C44 K300, phường 12, quận Tân Bình, Quyết định số 007 là quyết định thật, Quyết định số 74 là quyết định có nội dung giả tạo.

Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) năm 1986 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung”. “Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng”. Theo quy định của Luật HN&GĐ, tài sản trong thời kì hôn nhân của ông Song và bà Thảo tại lô C44-K300, là tài sản chung của 2 vợ chồng.

Do ông Song và bà Thảo có những mâu thuẫn trong cuộc sống, mà đỉnh điểm của mâu thuẫn là việc ông Song bán nhà số 59 đường K4, phường 12, quận Tân Bình, cho bà Võ Thị Mỹ Thu (Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 29/3/1992), mà không được sự đồng ý của bà Thảo. Theo bà Thảo thì bà không biết việc ông Song bán nhà đất trên.

Quyết định số 74/QĐ-DTB ngày 22/10/1990 là quyết định không có giá trị

Sau khi mua đất từ ông Song, để sang tên sổ đỏ diện tích nhà đất tại lô C44- K300, bà Thu đã cung cấp cho UBND TP Hồ Chí Minh Quyết định số 74/QĐ-DTB ngày 22/10/1990, do Trung tá Nguyễn Thanh Phương Phó Cục trưởng Cục Doanh trại kí, giao lô đất kí hiệu C44-K300 diện tích 100m2 cho bà Võ Thị Mỹ Thu (không thuộc cơ quan đơn vị nào). Quyết định số 74 ban hành sau Quyết định 007 (6 tháng 10 ngày). Như vậy Quyết định nào có giá trị thật quyết định nào là giả? Tại sao được cấp đất, bà Thảo còn mua đất trên của ông Song?!

Tại Văn bản số 113/HCNĐ ngày 18/7/2001 của Hội đồng bán nhà ở Quân khu 7 và Văn bản số 855/XDQLNĐ ngày 18/7/2007 của Cục Xây dựng quản lí nhà đất, Tổng cục Hậu cần xác định: “Việc Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần cấp lô đất C44- K300, phường 12, quận Tân Bình, cho ông Trần Hữu Song, theo Quyết định số 007/QĐ-DTB ngày 10/4/1990, về nguyên tắc là cấp cho hộ gia đình. Đây là quyết định thật vì ông Song là Trung tá thuộc Trường Sĩ quan Lục quân 2 có gia đình vợ là Đỗ Thị Thảo. Còn Quyết định số 74 không phải là thật, không có giá trị pháp lí, vì được cấp cho bà Thu, không phải là quân nhân, không thuộc đơn vị nào và không có hồ sơ gốc của đơn vị bình xét đủ tiêu chuẩn được giao đất.

Dùng quyết định “giả” để sang tên nhà đất trái pháp luật

Như vậy Quyết định số 74 của bà Thu được xác đinh không phải quyết định thật, không có giá trị pháp lí, nhưng bà Thu đã dùng quyết định này để chứng minh nguồn gốc đất được giao và được UBND TP Hồ Chí Minh cấp sổ đỏ cho lô đất C44-K300. Quá trình chuyển nhượng đất của ông Song và quá trình bà Thu được cấp sổ đỏ, bà Thảo không hề biết. Đơn ngày 28/7/1999, bà Thảo gửi Phòng Xây dựng quận Tân Bình, Sở Địa chính, Sở Xây dựng TP Hồ Chí Minh, nêu rõ: “Đầu năm 1992 trước mâu thuẫn của gia đình, tôi sợ chồng tôi có hành vi tiêu cực, tôi đã viết trước cửa nhà “Nhà này không mua bán hoặc trao đổi… ai mua là bất hợp pháp”. Tháng 1/1998, chị Thu dẫn 20 người đến nhà tôi phá khóa, xóa hết những vết sơn trên tường và ngang nhiên thay ổ khóa lúc đó tôi mới biết nhà đất đã bị chồng tôi là ông Song tự ý chuyển nhượng và có được thông tin có Quyết định số 74 của Cục Doanh trại cấp đất cho chị Thu”.

Bà Thảo đề nghị Sở Địa chính TP Hồ Chí Minh đình chỉ việc kê khai nhà đất, chuyển nhượng nhà đất của chị Thu, chờ kết quả thanh tra của Bộ Quốc phòng.

Thế nhưng, bằng Quyết định số 74 giả nêu trên, bà Thu vẫn được UBND TP cấp sổ đỏ số 15733/99 ngày 23/12/1999, mang tên chủ sở hữu Lê Xuân Hùng và Võ Thị Mỹ Thu, chủ căn hộ 59, đường K4, phường 12, quận Tân Bình. Sau khi có được sổ đỏ, để phi tang nguồn gốc đất được cấp sổ đỏ từ Quyết định số 74, bà Thu đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tế Thế, theo Hợp đồng mua bán nhà số 1471/HĐ-MBN, tại phòng Công chứng Nhà nước số 2, trước bạ ngày 10/3/2000 và sang tên cho ông Thế ngày 22/3/2000.

Để đòi lại tài sản của mình bị sang nhượng bất hợp pháp, ngày 10/10/2005, bà Thảo đã gửi đơn khởi kiện đến TAND quận Tân Bình, đề nghị tòa tuyên hủy hợp đồng mua bán ngày 29/3/1992 giữa ông Song và bà Thu.

Góc khuất của vụ án

Trong quá trình tố tụng bà Thảo mất năm 2008, đồng thừa kế của bà Thảo là ông Trần Nam Anh và bà Trần Thanh Hương, tiếp tục yêu cầu TAND TP Hồ Chí Minh công nhận nhà số 59, đường K4 phường 12, quận Tân Bình là tài sản chung của ông Song và bà Thảo, tuyên vô hiệu hóa Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ngày 29/3/1992, giữa ông Song và bà Thu; tuyên vô hiệu hóa Hợp đồng mua bán nhà số 1471/HĐ-MBN ngày 29/2/2000 giữa bà Thu với ông Thế và tuyên hủy sổ đỏ số 15773/99 ngày 23/12/1999 của UBND TP Hồ Chí Minh cấp cho bà Thu.

Bản án sơ thẩm số 282/2019 /DS-ST ngày 26/3/2019, TAND TP Hồ Chí Minh tuyên: Công nhận bà Thảo có quyền lợi tại nhà số 59, K4, ông Song phải thanh toán cho các đồng thừa kế của bà Thảo 4 tỉ đồng (1/3 giá trị tài sản), công nhận nhà số 59, K4, thuộc quyền sở hữu của bà Thu, ông Hùng, đã được UBND TP cấp sổ đỏ và sang tên cho ông Thế. Không chấp nhận các nội dung khác của nguyên đơn.

Góc khuất của bản án chính là Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 29/3/1992 giữa ông Song và bà Thu, không có chữ kí và sự đồng ý của bà Thảo, là trái pháp luật nhưng tòa đã không vô hiệu hóa.

Hồ sơ cấp sổ đỏ nhà số 59, K4 của bà Mỹ, không phải căn cứ từ Hợp đồng chuyển nhượng trái pháp luật ngày 29/3/1992, mà căn cứ nguồn gốc đất theo Quyết định số 74 cấp đất cho bà Mỹ. Đến thời điểm ngày 18/7/2001, Hội đồng bán nhà ở Quân khu 7 mới có Văn bản số 113/HCNĐ và ngày 18/7/2007, Cục Xây dựng quản lí nhà đất có Văn bản số 855/XDQLNĐ, xác định Quyết định số 74 của bà Thu là Văn bản không có giá trị pháp lí, chỉ có Quyết định số 007 của ông Song mới có giá trị pháp lí. Do đó hồ sơ cấp sổ đỏ lần đầu cho bà Thu, căn cứ từ Quyết định số 74 là quyết định giả, phải được hủy bỏ. Việc hủy bỏ sổ đỏ cấp cho hộ bà Thu, kéo theo việc chuyển nhượng mua bán nhà đất giữa hộ bà Thu với ông Thế, căn cứ trên hồ sơ sổ đỏ đã bị hủy, thì cũng bị hủy.

Đáng tiếc là bản án sơ thẩm đã không nhìn rõ góc khuất này, do đó phán xử còn có nội dung vi phạm pháp luật, dẫn đến nguyên đơn là ông Trần Nam Anh, bà Trần Thanh Hương và Viện KSND TP Hồ Chí Minh, đều phải kháng cáo và kháng nghị.

Công luận mong chờ phiên tòa phúc thẩm tới đây, những góc khuất của bản án sơ thẩm sẽ được Quý tòa nhìn rõ, soi đúng pháp luật, đem lại sự công minh trong phán xử.

Bạn đang đọc bài viết TP Hồ Chí Minh: Những góc khuất từ phiên tòa xử vụ mua bán nhà số 59 đường K4, phường 12 tại chuyên mục Pháp luật - Bạn đọc của Ngaymoionline.com.vn. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email baongaymoionline@gmail.com
Ý kiến của bạn
Tối đa 500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích

Đọc thêm

Cùng chủ đề TP Hồ Chí Minh

  Trong cùng chuyên mục Pháp luật - Bạn đọc

Video