Thế chấp cuốn sổ đỏ mảnh đất ở chợ Kim, Xuân Nộn, Đông Anh, Hà Nội thửa số 63 tờ 59”. Bà Thành kí nhận: “Tôi có cầm của cô Vân Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) của mảnh đất tại chợ Kim, Xuân Nộn, Đông Anh”. Tòa án thêm vào nội dung: “Vợ chồng vay tiền… để mua đất ở Xuân Nộn, Đông Anh”, bớt đi nội dung: “Thế chấp cuốn sổ đỏ mảnh đất ở chợ Kim, Xuân Nộn, Đông Anh, Hà Nội thửa 63 tờ 59”. Về nợ chung, năm 2010, vợ chồng bà Vân cùng ông Lê Hải Quang góp tiền mua chung 328m2 đất của gia đình ông Xuyên, bà Bảng, tại thôn Ninh Môn, Hiền Ninh, huyện Sóc Sơn, mỗi bên góp 400 triệu đồng. Vì mới mua đất tại chợ Kim và ôtô, nên vợ chồng bà Vân không đủ tiền, phải vay của bà Vịnh 300 triệu đồng, tiền bà Vịnh đang gửi tiết kiệm rút về cho vợ chồng bà Vân vay, với lãi suất như ngân hàng là 12%/năm. Sau đó, vợ chồng bà Vân và ông Lê Hải Quang thống nhất để con gái bà Vân là chị Nguyễn Thị Hà Linh đứng tên, để thuận tiện cho việc bán kiếm lời. Nhưng do thị trường bất động sản đóng băng, nên mảnh đất ở Đông Anh và Sóc Sơn chưa bán được. Do số tiền 400 triệu đồng mua 164m2 đất ngày 20/5/2010 tại Hiền Ninh, Sóc Sơn, trong đó phải đi vay 300 triệu đồng của bà Vịnh ngày 6/5/2010, nên sau đó ngày 4/5/2012, bà Vân vay 300 triệu đồng của bà Thành để (đáo nợ) trả cho bà Vịnh, là khoản nợ chung của vợ chồng.
Hàng cau trong vườn của vợ chồng bà Vân có tuổi đời lên tới hơn 30 năm

Hàng cau trong vườn của vợ chồng bà Vân có tuổi đời lên tới hơn 30 năm

Tuy nhiên, thẩm phán thêm bớt vào nội dung (BL-504) đánh tráo tài sản thế chấp tại Xuân Nộn, Đông Anh thành “mua đất Xuân Nộn, Đông Anh”. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, bà Vân đã vay 300 triệu đồng với lãi suất 1%/tháng (4/5/2012 - 28/6/2018) là 72 tháng x 3.000.000 đồng = 216.000.000 đồng, tổng số nợ phải trả là 516.000.000 đồng. Tòa án cấp phúc thẩm đã quyết định chia tài sản thế chấp trong kinh doanh, buộc cá nhân bà Vân phải trả nợ chung. Tài sản này không phải là nhà ở của vợ chồng bà Vân, Tòa án biến tài sản kinh doanh thành nhà ở, là trái đạo đức, trái pháp luật, tước đoạt quyền có chỗ ở của mẹ con bà Vân. Vì hơn 30 năm qua, vợ chồng bà Vân chỉ có chỗ ở duy nhất là căn nhà tại thôn 3 xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì. Việc yêu cầu hủy GCNQSDĐ mang tên ông Nguyễn Khắc Mạnh, là quyết định hành chính cá biệt, ban hành trái pháp luật. Trong sổ địa chính năm 1994, do UBND xã quản lí, số thứ tự 47, tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Duy Đông, diện tích sử dụng 685m2 (BL-378). Luật Đất đai không cho phép một người được sử dụng hai tên: Trong hồ sơ địa chính do Nhà nước quản lí là Nguyễn Duy Đông, tên trong Giấy chứng nhận là Nguyễn Khắc Mạnh. Tuy nhiên, trong GCNQSDĐ ghi tên Nguyễn Duy Đông (đã bị gạch bỏ) thay bằng tên Nguyễn Khắc Mạnh (BL-613), đăng kí quyền sử dụng 828m2 đất tại thôn 3 xã Đông Mỹ. Giấy chứng nhận chưa được UBND huyện Thanh Trì kí đóng dấu xác nhận. Nhưng trên giấy này có đóng dấu và chữ kí của ông Nguyễn Văn Thi, Chủ tịch UBND xã Đông Mỹ ghi ngày 11/10/1990. Chủ tịch UBND xã kí như vậy là trái thẩm quyền, còn kí trước ngày có đơn xin đăng kí QSDĐ ngày 18/10/1990 (BL-614). UBND xã Đông Mỹ cấp Giấy chứng tử ông Nguyễn Khắc Mạnh, chết ngày 23/4/1994 (BL-401), GCNQSDĐ cấp ngày 15/9/1994 mang tên ông Nguyễn Khắc Mạnh. Do đó, UBND xã Đông Mỹ không thể “giao GCNQSDĐ đến tận tay”, vì ông Mạnh đã chết. UBND xã Đông Mỹ phải giữ lại Giấy chứng nhận, do ông Mạnh chết không phát sinh quyền và nghĩa vụ của ông Mạnh với Nhà nước, đồng thời đề nghị UBND huyện Thanh Trì hủy Giấy chứng nhận mang tên ông Mạnh. Việc UBND huyện Thanh Trì cấp Giấy chứng nhận như vậy, là trái với các quy định về cấp GCNQSDĐ, tại Quyết định số 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục Quản lí ruộng đất. Thậm chí, việc cấp GCNQSDĐ này còn khống lên diện tích đất của hàng xóm, là nhà bà Bé đang sử dụng, dẫn đến tranh chấp đất đai gần 30 năm qua.
Do hành vi của các thẩm phán không thực hiện đúng công vụ trong công tác xét xử, dẫn đến gây thiệt hại về tài sản đối với bà Vân: Năm 1984, bà Vân về làm dâu, được bố mẹ chồng cho căn nhà cấp 4 đã mục nát, bà Vân nhiều lần sửa và làm lại nhà, đến năm 2001 mới xây lại căn nhà 3 tầng như hiện tại. Khu đất này năm 1984 là khu đất trũng, chỉ để trồng rau muống, bà Vân đã thuê xe đổ đất, cải tạo thành vườn để trồng cây lâu năm và xây dựng những công trình kiến trúc khác trên đất, ghi trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/5/2014 (các bút lục 199, 200, 201, 202, 203) và nhận định của Tòa án, toàn bộ tài sản trên thửa đất 196 là tài sản chung của vợ chồng. Khối tài sản này được hình thành trong thời gian chịu sự điều chỉnh của Quyết định số 201-HĐCP/QĐ ngày 1/7/1980, về việc thống nhất quản lí ruộng đất và tăng cường công tác quản lí ruộng đất trong cả nước. Như vậy, việc giải quyết tài sản tranh chấp trong các vụ án dân sự liên quan đến QSDĐ, Tòa án phải áp dụng Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày 3/5/1990 của TAND Tối cao, Viện KSND Tối cao, Tổng cục Quản lí ruộng đất, hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về tài sản liên quan đến sử dụng đất. Chiếu theo quy định này, toàn bộ tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng bà Vân, vợ chồng bà Vân có toàn QSDĐ tại thửa số 196, có diện tích theo sổ địa chính là 685m2. Tòa án lại không chia QSDĐ hợp pháp cho bà Vân, là tước đoạt quyền tài sản hợp pháp của bà Vân. Cụ thể: 342,5m2 x 12.000.000 đồng/m2 = 4.110.000.000 đồng và thiệt hại về công nợ là 354 triệu đồng. Tổng thiệt hại là 4,465 tỉ đồng. Từ những chứng cứ tài liệu nêu trên, có thể thấy rằng, việc các thẩm phán: Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Hà, Bùi Thị Thu Hồng và Mai Vân Anh có dấu hiệu không thực hiện đúng công vụ theo quy định của pháp luật, để giải quyết vụ án li hôn, gây thiệt hại cho bà Vân, thể thiện sự không vô tư trong khi thực hiện công vụ, có dấu hiệu đáng ngờ về động cơ, mục đích vụ lợi. Báo Người cao tuổi đề nghị Chánh án TAND TP Hà Nội tiến hành thủ tục xem xét lại toàn bộ bản án, tránh gây thiệt hại cho Nhà nước và công dân, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.