Truyện ngắn

Thứ sáu, 21-12-2018 | 09:34 GMT+7

Chuyện xóm Câu

Những ngày tháng Mười âm lịch, cái lạnh vừa sướt qua, bầu trời âm u xám xịt, ở cái bãi tha ma cách xóm Câu vài cây số, có người đàn bà và những đứa con đội khăn trắng, đội nón rách chống gậy ngất rồi tỉnh vật vờ bên cái huyệt. Người vừa được chôn dưới đất là ông Sáu, người đàn ông khổ mạng cho đến tận lúc chết ở xóm Câu. Người ta kể ông đi làm bên Đài Loan, khi đang đổ bê tông bị hẫng chân rơi từ tầng hai mươi mấy gì đó xuống đất. Cái từ “hẫng chân” nghe nhẹ tênh đến rợn người.

Có người thở dài thương xót.
- Thế thì còn gì là người nữa!
Sau gần nửa tháng bị “hẫng chân” đó, ông Sáu mới được trở về bên gia đình, bên xóm Câu lầm lì bởi cái nghèo. Trên tờ cáo phó ghi, ông hưởng dương năm mươi bảy tuổi. Người ta ngồi ở trên đám cỏ vừa bị giẫm rạp xuống đất vì có đám ma mới, kể lại những phần đời chìm nổi của ông Sáu.

Ông Sáu là con thứ sáu trong gia đình có tám anh chị em. Trước ông có bốn anh trai, một chị gái. Sau ông là hai cô em gái. Anh trai thứ ba của ông Sáu đoản mệnh, chết trong một đợt dịch sốt rét, khi mới hai mươi ba tuổi. Anh trai đầu của ông vào năm bốn mươi chín tuổi, cũng đột tử trong tình trạng say rượu.
Cha của ông Sáu là cụ Nhâm, một người có cái tai to, có cái miệng rộng và có tài ngoại giao. Nhưng cái tài ấy không được dùng đúng chỗ. Bao nhiêu năm làm quan xã ông cụ không đỡ đần gì được cho vợ con mà cứ trở về nhà là gây chuyện mắng nhiếc. Bên ngoài thì hách dịch, cường quyền. Cụ ham mê bài tam cúc, bài trấn đánh bằng hạt ngô nên ngày nào cũng tụ tập cùng đám người cùng “sở thích”. Đánh nhỏ rồi đánh lớn, rồi bao nhiêu xoong nồi, chậu chảo trong nhà cũng bị cụ Nhâm mang đi bán. Gia đình lụi bại dần, ngô sắn phải chia từng phần cho đàn con nheo nhóc.
Bà cụ Nhâm vất vả, lên rừng lên rẫy trồng lúa trồng ngô để nuôi sống đàn con. Cho đến ngày cụ mất, lưng đã còng như tấm ván phẳng đối diện với trời. Ông Sáu thương mẹ vất vả, từ nhỏ đã cắm đầu cắm mặt hì hụi đan cót, chân tay gầy nhẳng như cái que.
Năm tháng trôi đi, ông cụ bà cụ Nhâm già yếu dần, những đứa con trưởng thành nhưng trách nhiệm nuôi bố mẹ già ai cũng chối bỏ. Cuối cùng họ ở cùng vợ chồng ông Sáu. Nhưng thói đời cười ra nước mắt. Anh em ruột thịt vì vài ba sào đất vườn mà đánh chửi nhau, li tán nhau. Cha mẹ già không muốn chăm lo, lại muốn cấu xé từng mét đất. Vợ chồng ông Sáu nhận phần báo hiếu cha mẹ thì bị rèm pha là vì ham của. Nhưng miệng đời gian ác, cứ phải bỏ ngoài tai mà sống. Ông Sáu cùng vợ cặm cụi làm ăn, lo cho cha mẹ ốm đau, bệnh tật; con nhỏ nheo nhóc nhiều năm không còn để ý chuyện phân bua.
Khi cha mẹ không còn, ông bà Sáu lại lao vào những cuộc mưu sinh khác. Ở đó, mức cân bằng xã hội cao hơn, cây hoa màu chuyển đổi thành cây mía, sự khắc nghiệt của cuộc đời cũng tăng lên gấp bội.
                                                                                Minh họa Trần Nhương
Ngày đứa con gái đầu lòng bắt đầu vào học lớp 10, ông Sáu xách túi đi làm ăn xa. Cái túi là chiếc bị con cò màu hồng đựng thức ăn tăng trưởng cho lợn. Trong chiếc bị ấy chỉ có một bộ quần áo lao động màu xanh bộ đội, hai chiếc quần đùi đã sờn và một chiếc áo phông trắng ông được vợ mua cho ở chợ.
Trời chớm đông, xóm Câu cứ đìu hiu khó tả. Hồi đất này còn năm hai vụ mùa, lạc rồi đậu tương, già trẻ gái trai còn đủ cả thì đầy ắp tiếng cười nói rồi tiếng cãi nhau, tiếng mẹ chửi con, chồng chửi vợ. Bây giờ trồng mía năm thu hoạch một lần, ngày càng nhiều người như ông Sáu, rảnh việc lại rời quê đi làm thuê. Cũng là vì sự sống của gia đình, vì nuôi con ăn học, vì khoản nợ ngân hàng từ ngày xây cái nhà mái ngói, gỗ xoan chưa trả hết. Những công trình tận Quảng Ninh, Quảng Ngãi hay Sài Gòn là nơi họ tìm đến. Có người còn theo móc nối từ tận đâu sang làm ăn ở biên giới các tỉnh Việt Nam giáp Trung Quốc.
Đôi khi có người đi không về, vì rơi xuống từ tầng thứ bao nhiêu đó cao ngất của tòa nhà đang thi công không có rào lưới, không có bảo hộ lao động. Có người về tay trắng vì không hiểu biết nên bị lừa. Thì cuộc đời vẫn luôn có những sự ra đi nhẹ tênh như thế, có những gian trá hiển nhiên như thế. Tất cả chỉ như một vụ tai nạn giao thông hay những sự không may mắn rồi cũng qua và để sống họ đành phải tiếp tục ra đi.
Khi con gái ông Sáu vào đại học, ông cũng hao mòn dần. Nhưng bằng một sức mạnh tuyệt vời nào đó, vợ chồng ông đã cùng lúc có thể nuôi lớn cho ba, bốn đứa con. Gánh trên vai trách nhiệm trụ cột gia đình nên ông Sáu coi việc đi phụ hồ, đi đổ bê tông cốt thép ở các công trình như cái nghề, cái nghiệp.
Có lần con gái ông qua thăm nơi ông ở, cô khóc không ngớt vì chỗ ngủ của ông cùng mấy người hàng xóm tồi tàn quá.

Cơm ăn thì chỉ có món rau muống lõng bõng những cọng vàng khè, miếng cá trôi kho trắng ởn.
- Không sao đâu con, còn sống thì còn phải lao động, miễn là mình không sống bằng tiền lừa lọc của người khác. Gia đình mình nghèo, thôi con ráng cố gắng học hành để đỡ khổ.
Ông nói rồi vuốt tóc đứa con gái.
Ông Sáu luôn nghĩ giàu có thì do số trời nên ông không bao giờ than trách. Chỉ là nhiều khi chán nản cảnh làm thuê ông lại thấy dằn vặt mình ghê gớm khi không có tầm nhìn xa để làm kinh tế. Cái ngày mà ông còn cả đàn trâu mấy chục con lớn nhỏ múp míp là thời kì ông thấy có thể giàu lên. Rồi tai họa ập xuống, bệnh lở mồm long móng khiến một đàn trâu như mộng chỉ còn lại một con trâu già duy nhất. Từ đó, bao nhiêu vốn liếng còn lại đổ vào nuôi nấng hay làm gì cũng lụi bại. Ông Sáu suy sụp.
Cái số bị trời vùi dập, khi dáng chiều đã ngả xuống mái tóc hoa dâm, những đầu ngón tay đã khô và teo cứng, ông Sáu vẫn chưa được một ngày sống thảnh thơi. Lúc này ông còn phải lo cho hai thằng con trai đang tuổi ăn tuổi học nên bao nhiêu khó nhọc không khi nào cất được thành lời. Bà Sáu khi sinh đẻ không kiêng cữ được vì phải làm lụng phụ chồng nuôi bốn đứa con nên thời điểm giờ đau ốm liên miên.
Những đêm trằn trọc không ngủ được, ông Sáu ra sân ngồi rít thuốc lào nghe tiếng ếch nhái kêu, thân hình gầy gò chìm trong bóng tối dày đặc.
- Có chuyện chi phiền lòng hở ông?
Bà Sáu thấy chồng trở dậy cũng thức giấc.
- Sang năm thằng Hai vào cấp 3, thằng Tân cũng vào Đại học, chắc tôi phải kiếm mối đi xuất khẩu vài năm, chúng nó học xong sẽ về.
- Ông định đi đâu? Đi với ai?
Hai bàn tay bà đang đặt lên cánh tay ông Sáu bỗng trượt khỏi cùng tiếng thở dài khe khẽ mà sâu hun hút.
- Tôi đi Đài Loan, với thằng Quyết ở xóm bên. Nó nói công việc không vất vả lắm, thu nhập lại tốt hơn đi làm thuê ở mấy công trình ngoài Hà Nội.
- Ông này, hay là cho mấy đứa nhỏ thôi học.
- Không được.
Ông Sáu nói giọng nhẹ nhàng nhưng đầy quả quyết.
- Tôi không thể để chúng nó lặp lại cái cảnh sống trầy trật như tôi với bà, như những con người lầm lũi ở đây.
- Ừ.
Sau tiếng “ừ” khẽ khàng như sợ nói to sẽ đau xé ruột gan ấy, bà Sáu không nói thêm lời nào nữa. Bà vẫn luôn dằn vặt mình vì sức yếu không đỡ đần cho chồng được bao nhiêu, lại thêm xót xa khi đến nay ông Sáu ở cái tuổi sắp sửa lục tuần vẫn phải tha hương nơi đất khách.
Cuộc trò chuyện dừng lại ở đó, đêm tối tịch mịch lại thêm cái lạnh đầu đông mang đến sự cô liêu buồn bã bao trùm lên ông Sáu bà Sáu, lên ngôi nhà và lên cả xóm Câu.
Hai tháng sau, khi ăn Tết xong, ông Sáu lên đường sang Đài Loan cùng hai người xóm bên. Bà Sáu cố nén nước mắt để chồng bớt phiền lòng. Từ đó, cứ 3 tháng một lần, qua người đã mối lái sang bên này làm ăn ông Sáu gửi tiền về cho ba đứa con ăn học, cho bà Sáu thuốc thang và nuôi thêm đứa con út.
Cho đến lần thứ tám trong cái chuỗi ba tháng lặp lại ấy, ông Sáu trở về hẳn, trong cái mấy tấm kính được ướp đá và mãi mãi nằm lại dưới lòng đất với gió sương.
Những người hàng xóm tự an ủi mình, “Thôi ông ấy có chết đi mới hết khổ!”
 Truyện ngắn của Phan Nữ