Đời sống pháp luật

Thứ tư, 19-12-2018 | 15:50 GMT+7

Xung quanh việc TAND TP Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử một số vụ án dân sự: Liên tiếp vi phạm tố tụng nghiêm trọng!?

Thời gian qua, Tòa án Nhân dân (TAND) TP Thái Bình đưa ra xét xử một số vụ án dân sự, điều đáng nói, mặc dù đã có hướng dẫn chỉ đạo của Tòa án cấp trên, báo chí phản ánh, cảnh báo về tình trạng vi phạm tố tụng nghiêm trọng trong hoạt động xét xử. Nhưng, TAND TP Thái Bình chẳng những không khắc phục, mà ngày càng có dấu hiệu vi phạm thô bạo thêm. Điển hình là vụ án tranh chấp tài sản sau li hôn giữa bà Tạ Thị Chuộng và ông Nguyễn Văn Lâm, Tòa phúc thẩm buộc phải tuyên hủy lần thứ 2...

Kì 1: Chia tài sản có dấu hiệu trái pháp luật, Tòa phúc thẩm tuyên hủy án sơ thẩm lần thứ 2

Như Báo Người cao tuổi đã nêu, tháng 2/2014, bà Tạ Thị Chuộng có đơn li hôn với ông Nguyễn Văn Lâm, yêu cầu Tòa xử cho bà được hưởng 50% khối tài sản chung của vợ chồng và 50% tài sản của Công ty Nhựa Phú Lâm do ông Lâm là người đại diện theo pháp luật. Sau khi thụ lí và thu thập chứng cứ, ngày 8/3/2016, TAND TP Thái Bình đã đưa vụ án ra xét xử. Mặc dù trước đó ông Lâm đã thuận tình li hôn với bà Chuộng và trong quá trình thụ lí, Tòa sơ thẩm không đưa Công ty Nhựa Phú Lâm tham gia tố tụng theo luật định, nhưng Bản án sơ thẩm số 09/2016 HNGĐ-ST, do Phó Chánh án, Thẩm phán Lê Kiên Trung, Chủ tọa phiên tòa lại xử cho bà Chuộng được li hôn với ông Lâm và buộc Công ty nhựa Phú Lâm phải chia cho bà Chuộng được hưởng 50% giá trị tài sản của Công ty, với số tiền 1,257 tỉ đồng. Ngoài ra, án sơ thẩm còn buộc Công ty Nhựa Phú Lâm phải có nghĩa vụ thanh toán tiền công lao đóng góp của anh Nguyễn Văn Tài (con trai) là 225 triệu đồng(!?)

Trước Bản án sơ thẩm có dấu hiệu vi phạm tố tụng nghiêm trọng trên, ông Lâm đã kháng cáo lên TAND tỉnh Thái Bình. Ngày 8/8/2016, TAND tỉnh Thái Bình đã đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, với phán quyết, chấp nhận thuận tình li hôn giữa bà Chuộng và ông Lâm, hủy một phần quan hệ tài sản và án phí, trả hồ sơ vụ án về TAND TP Thái Bình theo trình tự tố tụng sơ thẩm để khắc phục. Phải nói thêm rằng, trước khi đưa vụ án tranh chấp tài sản sau li hôn xét xử sơ thẩm lần thứ 2 này, TAND TP Thái Bình đã phân công cho Phó Chánh án - Thẩm phán Trần Hồng Sơn thụ lí vụ án. Song trong quá trình thụ lí, thẩm phán Trần Hồng Sơn đã bộc lộ dấu hiệu không công tâm, để nguyên đơn đưa côn đồ đến đập phá tài sản, sỉ nhục, lăng mạ bị đơn ngay tại trụ sở Toà án… TAND TP Thái Bình phải giao hồ sơ vụ án cho Phó Chánh án - Thẩm phán Nguyễn Thị Hân giải quyết. Điều đáng bàn là Tòa phúc thẩm đã chỉ ra những khiếm khuyết mà án sơ thẩm (xử lại) cần khắc phục; Công ty Nhựa Phú Lâm đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nhưng Thẩm phán lại đẩy Công ty ra ngoài tố tụng. Phiên Tòa sơ thẩm mở ngày 19/6/2018, bị đơn, người đại diện ủy quyền, luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn vắng mặt lần thứ nhất, nhưng Thẩm phán Nguyễn Thị Hân vẫn đưa vụ án ra xét xử và ban hành Bản án sơ thẩm số 23/2008 HNGDD-ST, buộc Công ty Nhựa Phú Lâm có nghĩa vụ thanh toán giá trị Công ty cho bà Chuộng là 614,4 triệu đồng và thanh toán tiền công sức cho anh Tài 143,2 triệu đồng. Ngày 3/7/2018, Viện Kiểm sát Nhân dân (KSND) TP Thái Bình đã ban hành Kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKN - VKS-DS đề nghị hủy Bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm để xét xử lại. Nguyên đơn và bị đơn đều có kháng cáo toàn bộ bản án.
Bản án Phúc thẩm số 26/2018/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Thái Bình tuyên hủy Bản án sơ thẩm (lần thứ 2) của TAND TP Thái Bình
Ngày 22/11/2018, TAND tỉnh Thái Bình đã đưa vụ án xét xử theo trình tự phúc thẩm. Căn cứ vào hồ sơ và quá trình tranh tụng tại Tòa, HĐXX nhận thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 22/5/2018, các đương sự đều có mặt, Viện KSND TP Thái Bình vắng mặt không tham gia phiên tòa, lẽ ra theo quy định tại Điều 232 Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS), HĐXX án sơ thẩm phải tiếp tục xét xử vụ án. Việc ngừng phiên tòa là không đúng quy định của pháp luật. Phiên tòa được tiếp tục vào ngày 19/6/2018, nhưng vắng mặt bị đơn, người đại diện ủy quyền, luật sư bảo vệ cho bị đơn và Công ty Nhựa Phú Lâm, cần phải căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật TTDS, xác định họ vắng mặt lần thứ 1 phải quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt các đương sự là trái quy định tại Điều 227, 233 Bộ luật TTDS, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Sau khi li hôn, bà Chuộng yêu cầu chia 50% giá trị tài sản của Công ty Nhựa Phú Lâm, nhưng ông Lâm cho rằng, nếu chia thì bà Chuộng phải có nghĩa vụ trả nợ các món vay hình thành giá trị tài sản đó và các khoản lỗ kinh doanh từ năm 2012 đến 2014 là 11,3 tỉ đồng. Xét thấy, Công ty Nhựa Phú Lâm thành lập vào tháng 5/2011, là Công ty TNHH 2 thành viên (ông Lâm và anh Tài), với vốn xác định ban đầu là 620 triệu đồng. Đến tháng 5/2011, Công ty chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên do ông Lâm là người đại diện theo pháp luật, với vốn điều lệ là 1,52 tỉ đồng. Tòa sơ thẩm xác định giá trị Công ty đến thời điểm 8/2/2014, để chia cho bà Chuộng là chưa đúng quy định pháp luật về chia tài sản chung sau khi li hôn, chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ mà các đương sự phải chịu, bởi trong thời kì hôn nhân, bà Chuộng không có văn bản xác lập về tài sản chung đến ngày 18/2/2014. Vì vậy, Tòa sơ thẩm chỉ căn cứ vào trình bày của bà Chuộng để tính giá trị Công ty đến ngày 8/2/2014, từ đó chia giá trị tài sản Công ty cho bà Chuộng là không có căn cứ, vi phạm Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Bởi, Công ty Nhựa Phú Lâm một pháp nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Quyền và nghĩa vụ và tài sản của Công ty là độc lập. Tòa cấp sơ thẩm đặt trách nhiệm cho ông Lâm phải thanh toán giá trị Công ty cho bà Chuộng là không đúng quy định tại Điều 73,74 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Đồng thời tòa cấp sơ thẩm chưa làm rõ các khoản nợ của Công ty, không trưng cầu giám định cơ quan chuyên môn kiểm định, đánh giá giá trị tài sản của Công ty mà đã chia toàn bộ tài sản của Công ty tính đến ngày 8/2/2014 cho bà Chuộng là thu thập chứng cứ không đầy đủ, vi phạm các Điều 98, Điều 108 Bộ luật TTDS. Mặt khác, các yêu cầu của các tổ chức, cá nhân đối với Công ty Nhựa Phú Lâm là quan hệ pháp luật khác, phải được giải quyết bằng vụ án dân sự khác, trong đó có việc anh Tài đòi Công ty Nhựa Phú Lâm tiền công sức đóng góp,... TAND TP Thái Bình đưa vào giải quyết trong cùng một vụ án là không đúng quy định tại Khoản 1, Điều 5; Khoản 1, Điều 28, Bộ luật TTDS.

Chính vì vậy, Tòa cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ về tài sản chung, về quyền, nghĩa vụ tài chính của ông Lâm và bà Chuộng, dẫn đến giải quyết vụ án không khách quan, toàn diện, chính xác.

Từ các căn cứ về tố tụng, về nội dung nêu trên,TAND tỉnh Thái Bình áp dụng Khoản 3, Điều 308; Điều 310 Bộ luật TTDS, với Bản án phúc thẩm số 26/2018/HNGĐ-PT tuyên hủy Bản án sơ thẩm số 123/2018/HNGĐ-ST ngày 19/6/2018 của TAND TP Thái Bình, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Điều đáng quan tâm, chỉ là một vụ án tranh chấp tài sản sau li hôn đơn thuần, bởi sự xét xử thiếu công tâm, không tuân thủ luật pháp của TAND TP Thái Bình dẫn tới vụ án kéo dài ròng rã gần 5 năm, 3 lần phải thay Thẩm phán, 2 lần bị hủy án và bây giờ vụ án lại trở lại điểm khởi đầu!? Mặc dù án phúc thẩm lần này đã chỉ ra những sai phạm tố tụng nghiêm trọng, liệu rằng TAND TP Thái Bình có khắc phục để có một bản án công minh, đúng pháp luật, hay lại tiếp tục trượt theo "vết mòn cũ", như lời của Chánh án Nguyễn Thị Linh Nga "Không làm gì được đâu!" nói với phóng viên Báo Người cao tuổi và một số quan chức các ngành chức năng ở Thái Bình? (Còn nữa)
 Điều tra của Nguyễn Trọng Thắng

Tin đọc nhiều