Đời sống pháp luật

Thứ hai, 03-12-2018 | 14:28 GMT+7

Toà án không xem xét việc gian dối để được cấp GCNQSDĐO&QSHNO?

Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và quyền sở hữu nhà ở (QSHNO) dựa vào văn bản khai nhận di sản thừa kế gian dối và có dấu hiệu trái pháp luật về thừa kế, được UBND quận Thanh Xuân cấp giấy chủ quyền cho bà Nguyễn Thị Bảy. Tuy nhiên, 2 cấp tòa án đã không xem xét, giải quyết tình tiết này. Đây là cơ sở nguyên đơn có gửi Cơ quan Điều tra Viện KSND Tối cao xem xét việc xét xử của Hội đồng xét xử phiên tòa phúc thẩm.  

Tóm tắt ni dung vu án
Tại tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Thiều, sinh năm 1957, trú tại 21 ngách 354/177 đường Trường Chinh, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, TP Hà Nội trình bày: “Bố tôi là Nguyễn Xuân Đoàn và mẹ là Hoàng Thị Bương, có 3 người con: Nguyễn Xuân Tụ, Nguyễn Xuân Thiều và Nguyên Thị Minh Tâm; năm 1967 bố mẹ tôi li hôn. Sau đó bố tôi kết hôn với bà Nguyễn Thị Bảy, sinh được 3 người con: Nguyễn Xuân Tình, Nguyễn Xuân Thương, Nguyễn Xuân Thân. Bố tôi và bà Bảy có tài sản chung là nhà đất tại tổ 13 ngõ 97, tổ 45 phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội. Bố tôi mất năm 1997, không để lại di chúc, tài sản và nhà ở nói trên anh em chúng tôi đồng ý để bà Bảy ở và quản lí, khi nào bà Bảy mất thì nhà đất này giữ lại làm nơi thờ cúng tổ tiên và bố mẹ. Nhưng bà Bảy và các em cùng cha khác mẹ nói trên đã gian dối, làm xác nhận là bố tôi chỉ có 3 người con với bà Bảy, đến Văn phòng Công chứng Bảo Việt để đồng khai nhận thừa hưởng di sản của bố tôi chỉ có 4 người. Bằng văn bản công chứng này bà Bảy làm thủ tục cấp GCNQSHNO&QSDĐO tại 13 ngõ 97 tổ 45c, phường Thượng Đình đứng tên một mình bà Bảy. Năm 2013, bà Bảy hoàn tất việc bán nhà, chuyển nhượng QSDĐ đất này cho ông Nguyễn Đắc Tùng tại Văn phòng Công chứng Lạc Việt. Nay chúng tôi yêu cầu TAND huyện Hoài Đức hủy hợp đồng công chứng xác nhận phân chia thừa kế trên; hủy hợp đồng mua bán nhà đất giữa bà Bảy và ông Nguyễn Đắc Tùng; hủy GCNQSHNO&QSDĐO của UBND quận Thanh Xuân cấp cho bà Bảy và cấp cho ông Nguyễn Đắc Tùng”
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Nguyễn Văn Hoàn trình bày (trích): Đề nghị Toà án xem xét tư cách khởi kiện của nguyên đơn, vì tính đến thời điểm Văn bản khai nhận di sản thừa kế của ông Đoàn để lại thì ông Đoàn đã chết quá 10 năm, vì vậy ông Thiều không còn quyền yêu cầu chứng minh mình là người thừa kế hợp pháp (theo Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2005); giữ nguyên hiệu lực của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số công chứng 1568.2013/KNTK ngày 23/9/2013.
Bản án số 18/2017/DS - ST ngày 30/9/2017 của TAND huyện Hoài Đức, xử (trích): Tuyên bố văn bản thoả thuận phân chia thừa kế số 1568.201/KNTC ngày 23/9/2013 của Văn phòng Công chứng Bảo Việt vô hiệu; giữ nguyên hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ&QSHNO số 1491.2013/HĐ/CN ngày 16/10/2013 của Văn phòng Công chứng Lạc Việt giữa bà Bày và ông Tùng; giữ nguyên hiệu lực của việc đăng kí sang tên GCNQSDĐ số AM 662300 do UBND quận Thanh Xuân cấp ngày 18/11/2013 cho ông Tùng.
Bản án số 218/2018/DS-PT ngày 12/9/2018 của TAND TP Hà Nội, xử (trích): Tuyên bố văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế số 1568.2013/KNTC ngày 23/9/2013 tại Văn phòng Công chứng Bảo Việt vô hiệu. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân Thiều về việc: Tuyên huỷ việc đăng kí sang tên GCNQSDĐ ngày 2/10/2013 của UBND quận Thanh Xuân cho bà Bảy, vì văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế số 1568.2013/KNTK ngày 23/9/2013 lập tại Văn phòng Công chứng Bảo Việt bị vô hiệu; tuyên huỷ Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số 1491.2013/HĐ-CN ngày 16/10/2013 tại Văn phòng Công chứng Lạc Việt giữa bà Bảy với anh Tùng và huỷ việc đăng ký sang tên  GCNQSDĐ cho anh Tùng.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Căn cứ Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm; Tuyên huỷ Hợp đồng chuyển nhượng số 1419.2013/HĐ-CN ngày 16/10/2013 tại Văn phòng Công chứng Lạc Việt giữa bà Nguyễn Thị Bảy và anh Nguyễn Đắc Tùng; huỷ việc đăng kí sang tên GCNQSDĐ cho anh Nguyễn Đắc Tùng do Hợp đồng chuyển nhượng này vi phạm điều cấm của pháp luật.
Đại diện Viện KSND TP Hà Nội phát biểu xác định: Toà án cấp sơ thẩm tuyên Văn bản thoả thuận phân chia thừa kế số 1568.201/KNTC ngày 23/9/2013 tại Văn phòng Công chứng Bảo Việt vô hiệu là có căn cứ. Khi văn bản này vô hiệu dẫn đến việc đăng kí sang tên của bà Bảy đối với khối tài sản này cũng sẽ bị vô hiệu, hợp đồng chuyển nhượng giữa anh Tùng và bà Bảy cũng bị vô hiệu. Toà án cấp sơ thẩm không huỷ việc đăng kí sang tên GCNQSDĐ ngày 2/10/2013 của UBND quận Thanh Xuân cho bà Bảy (theo yêu cầu của nguyên đơn) và giữ nguyên hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở số 1491.2013/HĐCN ngày 16/10/2013 của Văn phòng Công chứng Lạc Việt giữa bà Bảy và anh Tùng là không đúng theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2005.
          Đơn xin xác nhận về di sản và cá đồng thừa kế có nội dung sai lệch

Toà án không giải quyết việc gian dối để được cấp GCNQSDĐO&QSHNO?
HĐXX phiên tòa phúc thẩm nhận định: “Sau khi lập văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế số 1568.2013/KNTK ngày 23/9/2013, bà Bảy đã làm thủ tục đăng kí biến động sang tên và được UBND quận Thanh Xuân xác nhận vào GCNQSDĐ số đăng kí 268 ngày 2/10/2013, theo Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế. Ngày 16/10/2013, bà Bảy đã chuyển nhượng nhà, đất tại địa chỉ số 13, ngõ 97, tổ 45c, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân cho anh Nguyễn Đắc Tùng, hai bên đã lập Họp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số 1491.2013/HĐ-CN ngày 16/10/2013 tại Văn phòng Công chứng Lạc Việt. Anh Tùng đã thanh toán tiền và nhận tài sản từ bà Bảy, đồng thời đã hoàn tất các thủ tục đăng kí biến động sang tên GCNQSDĐ và được UBND quận Thanh Xuân đăng kí sang tên số 315 ngày 18/11/2013. Quá trình giải quyết vụ án ông Thiều cũng xác nhận không có đơn đề nghị ngăn chặn việc dịch chuyển tài sản. Tại thời điểm thực hiện các thủ tục đăng kí biến động chưa có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế số 1568.2013/KNTK ngày 23/9/2013 bị vô hiệu, nên việc UBND quận Thanh Xuân thực hiện các thủ tục đăng kí biến động và đăng kí sang tên GCNQSDĐ cho người có đủ điều kiện được sang tên là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.”
Tuy nhiên, không biết vô tình hay hữu ý, mà trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX phiên tòa phúc thẩm đã không yêu cầu UBND quận Thanh Xuân trả lời tại sao Hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ số đăng kí 268 ngày 2/10/2013 cho bà Bảy có nội dung gian dối, nhưng UBND quận Thanh Xuân vẫn xác nhận và cấp GCNQSDĐ cho bà Bảy?
Mặt khác, HĐXX phiên tòa phúc thẩm đã không xét xét tình tiết mới xuất hiện từ lời trình bày tại tòa của phía bị đơn: “Tính đến thời điểm Văn bản khai nhận di sản thừa kế của ông Đoàn để lại thì ông Đoàn đã chết quá 10 năm, vì vậy ông Thiều không còn quyền yêu cầu chứng minh mình là người thừa kế hợp pháp (theo Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2005)”. Trong khi, cũng theo điều luật này, thì các bị đơn cũng không có quyền lập Văn bản khai nhận di sản thừa kế của ông Đoàn. Vì lúc này di sản của ông Đoàn đã trở thành tài sản chung chưa chia; và lúc này các bị đơn lập Văn bản khai nhận di sản thừa kế của ông Đoàn để lại là cũng không phù hợp quy định của pháp luật về thừa kế. Điều này cũng là thêm một minh chứng thể hiện Hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ số đăng kí 268 ngày 2/10/2013 cho bà Bảy có nội dung khuất tất.
Từ những nội dung phản ánh trên đây, cho thấy nguyên đơn có đơn phản ánh, trong vụ án trên việc xét xử của 2 cấp tòa chưa công minh là có cơ sở!
Mai Thân

Tin đọc nhiều