Bạn đọc

Thứ năm, 03-01-2019 | 13:21 GMT+7

Maritime Bank có dấu hiệu vi phạm quy định về hoạt động của ngân hàng?

Liên quan đến vụ việc xảy ra đối với khách hàng của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank), Luật sư Hoàng Tùng, Văn phòng Luật sư Trung Hòa, Đoàn Luật sư TP Hà Nội đã chỉ ra những dấu hiệu vi phạm của ngân hàng này dựa trên những quy định của pháp luật.  

Vụ việc xảy ra giữa khách hàng của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) đã khiến cho dư luận đặt câu hỏi về cách làm việc của ngân hàng này. Đồng thời, danh tính thực sự của vị "công an kiêm giám đốc thu hồi nợ của  Maritime Bank cũng hết sức được dư luận quan tâm. Để rộng đường dư luận về sự thật khách quan cũng như tính pháp lý của vụ việc, phóng viên Báo Ngày mới Online (Báo Người cao tuổi) đã có buổi trao đổi với Luật sư Hoàng Tùng, Văn phòng Luật sư Trung Hòa, Đoàn Luật sư TP Hà Nội.
 
Trụ sở Maritime Bank

PV: Việc Ngân hàng Mê Kông khi làm thủ tục cho vay không điều tra xác định rõ tài sản thế chấp, và những người vay trong những bản hợp đồng có chữ ký của ông Trần Sáng, Phó Giám đốc chợ Việt Hưng, sau đó chuyển cho người nhà ký vào bản hợp đồng liệu có đúng với quy định của pháp luật?
LS Hoàng Tùng: Mỗi ngân hàng đều có quy trình, quy chế thẩm định khách hàng khắt khe, nhưng thực tế vẫn xảy ra những vụ việc bị khách hàng lừa đảo, chiếm đoạt hàng trăm tỷ đồng. Điều này cho thấy, việc thẩm định hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp đang có nhiều lỗ hổng. Thẩm định tư cách khách hàng, khả năng tài chính, phương án vay vốn là khâu quan trọng trong quy trình thẩm định. Làm tốt những khâu này có thể giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro, tăng khả năng hoàn vốn vay
Việc Ngân hàng Mekông khi làm thủ tục cho vay không điều tra, thẩm định rõ tài sản bảo đảm đã vi phạm quy trình thẩm định tài sản, không kiểm tra tính đầy đủ hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ vay vốn do khách hàng lập
.PV: Trong vụ việc, ông Nguyễn Cảnh Thuật tự xưng là Công an đang công tác kiêm Giám đốc thu hồi nợ của Maritime Bank liệu có đúng với điều lệ, quy định của lực lượng Công an Nhân dân?

  LS Hoàng Tùng: Theo quy định tại Điều 31 Luật Công an Nhân dân năm 2014, cán bộ, chiến sĩ Công an Nhân dân không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đồng thời, không được làm những việc trái với pháp luật, điều lệnh Công an Nhân dân và những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức, viên chức không được làm.
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Điều 37 Luật Phòng chống tham nhũng quy định rõ những việc cán bộ, công chức, không được làm, cụ thể:
a) Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong khi giải quyết công việc;
b) Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
c) Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật công tác, những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc mình tham gia giải quyết;
d) Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;
đ) Sử dụng trái phép thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị vì vụ lợi.
2. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý Nhà nước.
3. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hoá, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.
4. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý trực tiếp.
5. Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong doanh nghiệp của Nhà nước không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hoá, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp”.
Như vậy, việc ông Nguyễn Cảnh Thuật là Công an đang công tác, kiêm Giám đốc thu hồi nợ của Maritime Bank đã vi phạm Luật Công an Nhân dân  năm 2014, Luật Cán bộ công chức năm 2008, Luật Phòng chống tham nhũng.
Luật sư Hoàng Tùng, Văn phòng Luật sư Trung Hòa, Đoàn Luật sư TP Hà Nội.

PV:  Khi khách hàng nợ và không có khả năng trả nợ thì phía ngân hàng cần làm những thủ tục pháp lý gì để thu hồi nợ?
LS Hoàng Tùng: Người vay mượn không trả đúng thời hạn quy ước phải trả tiền đã vay mượn cho các tổ chức tín dụng bao gồm cả tiền gốc lẫn tiền lãi. Khi đã đến hạn thanh toán hợp đồng vay theo như thỏa thuận về thời gian cho vay mà khách hàng không có khả năng thanh toán được tiền lãi và cả gốc thì được xếp vào nhóm nợ quá hạn.
Nếu cá nhân, tổ chức doanh nghiệp, công ty bị vướng vào tình trạng nợ thì chịu ảnh hưởng khá xấu đến uy tín của mình.
Việc xử lý nợ quá hạn sẽ được thực hiện tuân thủ trên 2 quy định chung:
Quy định của ngân hàng Nhà nước.
Quy định riêng của mỗi ngân hàng.
Căn cứ vào tình hình nợ thuộc nhóm nào mà ngân hàng hoặc tổ chức cho vay sẽ có quy trình xử lý phù hợp. Thông thường ngân hàng sẽ thực hiện xử lý nợ thông qua các cách sau:
Liên hệ ngay với người vay bao gồm cá nhân, tổ chức, công ty nhằm thông báo việc nợ quá hạn. Lúc này, người vay có thể nêu tình hình khó khăn của bản thân và được yêu cầu tiếp tục trả nợ đúng hạn.
Nếu vẫn chưa có động thái trả nợ thì ngân hàng tiếp tục gửi thông báo đến các nơi có liên quan bao gồm: đơn vị khách hàng công tác, công ty khách hàng liên kết kinh doanh để nhờ hỗ trợ đòi nợ.
Một số ngân hàng bắt đầu chọn hình thức chuyển việc đòi nợ cho bên thứ 3 để thực hiện thay mình.
Thực hiện các cách trên vẫn chưa có thể thỏa thuận cũng như thu hồi nợ thì ngân hàng hoặc tổ chức cho vay sẽ sử dụng đến phương án cuối cùng là kiện đòi nợ theo quy định của pháp luật.
PV: Việc ngân hàng không làm những thủ tục pháp lý cần thiết để thu hồi nợ, mà lại để cho nhân viên gọi điện rồi tự xưng là công an đe dọa làm cho khách hàng hoang mang lo lắng, như vậy có vi phạm pháp luật không?
LS Hoàng Tùng: Thời gian gần đây, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Bộ Công Thương ghi nhận nhiều phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng về việc bị gọi điện, nhắn tin với mục đích đe dọa, nhắc nợ mặc dù người tiêu dùng không vay nợ từ tổ chức, đơn vị liên quan. Các hình thức quấy rối này hiện gây ra sự bức xúc và ảnh hưởng tới cuộc sống và công việc hàng ngày của người tiêu dùng.
Hành vi trên có thể bị xử phạt theo Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 3/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi pham hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Theo đó, hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ bị xử phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng (điểm g, Khoản 3, Điều 66).
Ngoài việc bị xử phạt hành chính, bồi thường dân sự, những hành vi bôi nhọ danh dự nhân phẩm của người khác trên mạng xã hội một cách nghiêm trọng có thể bị xử lý về hình sự về các tội Vu khống, Làm nhục người khác hoặc tội Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân.
PV: Xin cảm ơn Luật sư!
Nhóm PVPL

 

Tin đọc nhiều